TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 64/2024/DS-ST
Ngày: 25/4/2024
V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hiểu
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Tiến Lợi
- Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 181/2023/TLST–DS ngày 12 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-DS ngày 22/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐST-DS ngày 12/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A (A1), trụ sở: Tầng A, 2, 3, tòa nhà G, số C H, phường Ô, quận Đ, thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Mạnh K– Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Q; Chức vụ: Trưởng ban xử lý nợ. Theo Giấy ủy quyền số 16/UQ-HĐQT.22.
Người đại diện theo ủy quyền (ủy quyền lại): Ông Lê Xuân T – Chuyên viên xử lý nợ. (Theo giấy ủy quyền số 522/UQ-TGĐ.23 ngày 09/8/2023). Có Đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1993; Nơi cư trú hiện tại: Thôn L, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1993; Nơi cư trú hiện tại: Thôn L, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Việc ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA (dành cho khách hàng cá nhân) Hợp đồng số 76-PH.22 ngày 29/6/2022.
- Ngày 29/6/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần A (A1), Chi nhánh H - Phòng giao dịch phố H có ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA (dành cho khách hàng cá nhân) Hợp đồng số 76-PH.22 ngày 29/6/2022 với ông Nguyễn Xuân T1, nội dung như sau: Ngân hàng cho ông Nguyễn Xuân T1 vay qua phát hành thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA (dành cho khách hàng cá nhân); Hạn mức tín dụng: 100.000.000 đồng; Lãi suất cho vay trong hạn: 19%/năm (Theo Quyết định số 162/QĐ-TGĐ.21 ngày 14/05/2021 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP A); Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Khoản vay này là khoản vay không có tài sản đảm bảo.
- Việc trả nợ của ông Nguyễn Xuân T1: Quá trình sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA (dành cho khách hàng cá nhân) tính đến hết ngày 25/4/2024, ông Nguyễn Xuân T1 đã sử dụng tiền vay và trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 500.150.000 đồng nợ gốc. Do ông Nguyễn Xuân T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chuyển khoản nợ sang nợ quá hạn từ ngày 29/12/2022.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần A đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết các yêu cầu cụ thể như sau:
Yêu cầu ông Nguyễn Xuân T1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A theo “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA” (dành cho khách hàng cá nhân) Hợp đồng số 76-PH.22 (số thẻ 408906XXXXXX4607). Tính đến ngày 25/4/2024 số tiền là: 148.986.757 đồng (trong đó: Nợ gốc là 99.413.000 đồng, N1 lãi trong hạn là 49.189.130 đồng, Lãi phạt 384.627 đồng). Kể từ ngày 26/4/2024 ông Nguyễn Xuân T1 còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA (dành cho khách hàng cá nhân) Hợp đồng số 76-PH.22 ngày 29/6/2022 và điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Xuân T1 trong quá trình giải quyết vụ án:
Tại Bản tự khai của bị đơn, Biên bản hòa giải ngày 22/3/2024, bị đơn xác nhận có ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA (dành cho khách hàng cá nhân) Hợp đồng số 76-PH.22 ngày 29/6/2022 như ngân hàng trình bày là đúng, bị đơn xác nhận nợ gốc, nợ lãi như ngân hàng khởi kiện là đúng. Bị đơn xác nhận khoản vay này là khoản vay cá nhân không liên quan đến vợ là bà Nguyễn Thị N. Hiện tại ông T1 kinh tế gặp rất nhiều khó khăn mong muốn đại diện Ngân hàng A cho ông T1 thêm thời gian sẽ thanh toán cho Ngân hàng Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N (vợ ông T1):
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập và gửi các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1993 (vợ ông T1); Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội, yêu cầu bà N nộp Bản tự khai và nêu ý kiến của mình về khoản vay của ông T1 trong thời kỳ hôn nhân giữa bà N và ông T1. Do bà N vắng nhà nên ông Phạm Xuân D, sinh năm 1960 (là bố đẻ ông T1) ở cùng nhà với vợ chồng ông T1, bà N đã nhận thay và cam kết chuyển đến bà N. Nhưng, bà Nguyễn Thị N không đến Tòa án tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình gửi đến Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nội dung: Ngày 29/6/2022, Ngân hàng Thương mại Cổ phần A (A1), Chi nhánh H - Phòng giao dịch phố H và ông Nguyễn Xuân T1 có ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA (dành cho khách hàng cá nhân) Hợp đồng số 76-PH.22 ngày 29/6/2022. Ngân hàng cho ông Nguyễn Xuân T1 vay qua phát hành thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA (dành cho khách hàng cá nhân); Hạn mức tín dụng: 100.000.000 đồng; Lãi suất cho vay trong hạn: 19%/năm (Theo Quyết định số 162/QĐ-TGĐ.21 ngày 14/05/2021 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP A); Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Khoản vay này là khoản vay không có tài sản đảm bảo. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA (dành cho khách hàng cá nhân) tính đến hết ngày 25/4/2024, ông Nguyễn Xuân T1 đã sử dụng tiền vay và trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 500.150.000 đồng nợ gốc. Do ông Nguyễn Xuân T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chuyển khoản nợ sang nợ quá hạn từ ngày 29/12/2022.
Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Xuân T1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A tính đến ngày 25/4/2024 số tiền là: 148.986.757 đồng (trong đó: Nợ gốc là 99.413.000 đồng, N1 lãi trong hạn là 49.189.130 đồng, Lãi phạt 384.627 đồng). Kể từ ngày 26/4/2024 ông Nguyễn Xuân T1 còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
1. Ngày 29/6/2022, ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1993; Nơi cư trú hiện tại: Thôn L, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội, đã ký “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA”; Hợp đồng số 76-PH.22 (số thẻ 408906XXXXXX4607) với Ngân hàng thương mại cổ phần A (A1), Chi nhánh H- Phòng giao dịch phố H với số tiền vay là 100.000.000 đồng để tiêu dùng cá nhân. Do ông Nguyễn Xuân T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng khởi kiện ông Nguyễn Xuân T1 tại Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Xuân T1 trả nợ gốc và lãi quá hạn, lãi phạt. Đây là hợp đồng tín dụng có kỳ hạn, có lãi. Căn cứ các điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa ngày 12/4/2024, nguyên đơn có Đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Xuân T1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử đã Hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở phiên tòa theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Quyết định hoãn phiên tòa đã được tống đạt hợp lệ cho các đương sự.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có Đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do lần thứ hai. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự - Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A:
[2.1]. Đối với khoản tiền gốc và tiền lãi trong hạn, lãi phạt:
Hội đồng xét xử xét thấy, Ngày 29/6/2022, ông Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1993; Nơi cư trú hiện tại: Thôn L, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội ký “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA” (dành cho khách hàng cá nhân) Hợp đồng số 76-PH.22 (số thẻ 408906XXXXXX4607) với Ngân hàng Thương mại cổ phần A (A1), Chi nhánh H - Phòng giao dịch phố H ông T1 đã vay số tiền 100.000.000 đồng để tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng tính đến hết ngày 25/4/2024, ông Nguyễn Xuân T1 đã sử dụng tiền vay và thanh toán trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 500.150.000 đồng nợ gốc. Ngày 29/12/2022, do ông Nguyễn Xuân T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chuyển khoản nợ sang nợ quá hạn.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Xuân T1 xác nhận khoản vay này mặc dù phát sinh trong thời kỳ hôn nhân nhưng là khoản vay sử dụng của cá nhân ông T1, không liên quan đến vợ là bà Nguyễn Thị N. Tòa án đã triệu tập và gửi các văn bản tố tụng hợp lệ cho bà Nguyễn Thị N (vợ ông T1) yêu cầu bà N nộp Bản tự khai và nêu ý kiến của mình về khoản vay của ông T1 trong thời kỳ hôn nhân giữa bà N và ông T1. Nhưng, bà Nguyễn Thị N không đến Tòa án tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình gửi đến Tòa án.
Hội đồng xét xử xác định, thỏa thuận của các bên về số tiền vay, lãi suất vay, nghĩa vụ thanh toán tiền gốc, tiền lãi ghi trong “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA” (dành cho khách hàng cá nhân) Hợp đồng số 76-PH.22 (số thẻ 408906XXXXXX4607) ký kết ngày 29/6/2022, là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của Điều 463, 465, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần A yêu cầu ông Nguyễn Xuân T1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng khoản nợ tính đến hết ngày 25/4/2024 số tiền là: 148.986.757 đồng (trong đó: Nợ gốc là 99.413.000 đồng, N1 lãi trong hạn là 49.189.130 đồng, L phạt 384.627 đồng) được chấp nhận.
Kể từ ngày 26/5/2024 ông Nguyễn Xuân T1 còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA” (dành cho khách hàng cá nhân) Hợp đồng số 76-PH.22 (số thẻ 408906XXXXXX4607) ký kết ngày 29/6/2022 và điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA” (dành cho khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại cổ phần A cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A được chấp nhận, nên căn cứ vào Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 26 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm án phí, lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Xuân T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.449.337 đồng (Bảy triệu, bốn trăm bốn chín nghìn, ba trăm ba bảy nghìn đồng). Ngân hàng thương mại cổ phần A đợc hoàn lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 327, Điều 463, Điều 464, Điều 465, Điều 466, Điều 467, Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 259, Điều 271, Điều 273, Điều 499, điểm c, d khoản 2 Điều 500 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 3 Điều 90, khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Áp dụng Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần A đối với ông Nguyễn Xuân T1.
Buộc ông Nguyễn Xuân T1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần A số tiền còn nợ tính đến hết ngày 25/4/2024 là: 148.986.757 đồng (Một trăm bốn tám triệu, chín trăm tám sáu nghìn, bảy trăm năm bảy đồng), gồm:
- Tiền nợ gốc là: 99.413.000 đồng (Chín mươi chín triệu, bốn trăm mười ba nghìn đồng);
- T2 nợ lãi trong hạn là: 49.189.130 đồng (Bốn chín triệu, một trăm tám chín nghìn, một trăm ba mươi đồng);
- T2 lãi phạt là: 384.627 đồng (Ba trăm tám tư nghìn, sáu trăm hai bảy đồng).
Kể từ ngày 26/4/2024, ông Nguyễn Xuân T1 còn phải tiếp tục chịu các khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng Quốc tế A1 VISA” (dành cho khách hàng cá nhân) Hợp đồng số 76-PH.22 (số thẻ 408906XXXXXX4607) ký kết ngày 29/6/2022 của Ngân hàng thương mại cổ phần A cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: ông Nguyễn Xuân T1 phải nộp 7.449.337 đồng (Bảy triệu, bốn trăm bốn chín nghìn, ba trăm ba bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm;
- - Hoàn trả Ngân hàng thương mại cổ phần A 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0077115 ngày 11/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quang Hiểu |
Quyết định số 64/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số quyết định: 64/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
