Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 621/2024/QĐST-HNGĐ

Tân Bình, ngày 06 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ Điều 212, Điều 213 và Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 517/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2024 về việc “yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Ông: Lê Văn L, sinh năm 1989; Nơi thường trú: xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà: La Thị Nhật A, sinh năm 1991; Nơi thường trú: xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Phường X, quận Y Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Ông Lê Văn L và bà La Thị Nhật A cùng có đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Đây là yêu cầu về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 2 Điều 29 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông L có địa chỉ cư trú ở quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 35, điểm h khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn 70, ngày 12/5/2020 do UBND xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp và trình bày của đương sự thì ông Lê Văn L và bà La Thị Nhật A là vợ chồng hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên phát sinh mâu thuẫn từ những vấn đề trong cuộc sống, không hòa hợp với gia đình chồng và trong việc chăm sóc con chung. Từ tháng 11/2020 vợ chồng đã ra sống riêng nhưng mâu thuẫn vẫn tiếp diễn nên thường xuyên gây gổ, cuộc sống chung không hạnh phúc. Đến tháng 11/2021 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay cả hai đã suy nghĩ kỹ và nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được yêu cầu Tòa án giải quyết cho thuận tình ly hôn để ổn định cuộc sống riêng.

Xét thấy, sự thỏa thuận của hai bên là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận.

[3] Về con chung: Ông Lê Văn L và bà La Thị Nhật A có 01 con chung tên Lê Ngọc N, sinh ngày 30/9/2020. Hai bên thống nhất thỏa thuận yêu cầu công nhận cho bà La Thị Nhật A được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận.

Xét thấy, ông Lê Văn L và bà La Thị Nhật A tự nguyện thỏa thuận về việc nuôi con, cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với và quy định của pháp luật tại các Điều 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận.

[4] Về tài sản chung: Ông Lê Văn L và bà La Thị Nhật A khai không có.

[5] Về nợ chung: Ông Lê Văn L và bà La Thị Nhật A khai không có nợ chung.

[6] Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng do ông Lê Văn L và bà La Thị Nhật A mỗi người chịu ½, được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí do ông Lê Văn L và bà La Thị Nhật A đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002148 ngày 19/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn L và bà La Thị Nhật A thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Giao cho bà La Thị Nhật A được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Ngọc N, sinh ngày 30/9/2020.

Việc cấp dưỡng nuôi con do hai bên tự thỏa thuận.

Khi có lý do chính đáng mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có

- Về nợ chung: Không có

2. Về lệ phí việc dân sự: Lệ phí việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng do ông Lê Văn L và bà La Thị Nhật A mỗi người chịu ½, được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí do ông Lê Văn L và bà La Thị Nhật A đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002148 ngày 19/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân Q.Tân Bình;
  • - Chi cục THADS Q.Tân Bình;
  • - UBND xã V;
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN

Trương Lê Diễm Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 621/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về công nhận thuận tình ly hôn

  • Số quyết định: 621/2024/QĐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn L - La Thị Nhật A yêu cầu công nhận TTLH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger