Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G

THÀNH PHỐ HÀ NỘI.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2024/HS-ST

Ngày 26 - 04 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Ngân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà: Nguyễn Thị Hồng Ninh

Bà: Đàm Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thiện Phúc – thư ký Tòa án nhân dân huyện G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Ông: Nguyễn Công Thành- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2024/TLST-HS, ngày 15 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị B, sinh năm 1954 tại Hà Nội; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội, nơi ở hiện tại: thôn G, xã N, huyện G, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 10/10; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thạc T, sinh năm 1933 (Đã chết) và bà Ngô Thị M sinh năm 1933; Chồng: Nguyễn Khắc V sinh năm 1950 (Đã chết); Con: có 03 con, con lớn sinh năm 1979, con bé sinh năm 1984; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
  2. Đỗ Thị P, sinh năm 1968 tại Hà Nội; Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Thiện T1 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị U (Đã chết); chồng: Phạm Văn T2 sinh năm 1965; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
  3. Phạm Thị D, sinh năm 1987 tại Hà Nội; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Mạnh H sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị M1 sinh năm 1963; Chồng: Nguyễn văn T3 sinh năm 1985; Con: có 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân Thân: Ngày 04/10/2006, Công an huyện G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 500.000 đồng đối với Phạm Thị D về hành vi Đánh bạc. Bị can bị bắt theo lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 07/01/2024 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ. Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
  4. Nguyễn Văn Y, sinh năm 1960 tại Hà Nội; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 7/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T4 sinh năm 1913 (Đã chết) và bà Lê Thị D1 sinh năm 1915 (Đã chết); Vợ: Thạch Thị Thanh H1 sinh năm 1963; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can đầu thú và tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 07/01/2024 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ. Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
  5. Đỗ Thị L, sinh năm 1976 tại Hà Nội; Đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn D2 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị L1 sinh năm 1954; Chồng: Nguyễn Mạnh V1 sinh năm 1974; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con bé sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1985; trú tại: thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2022, P và B có thỏa thuận thống nhất: P là người thuê D đi thu các bảng lô, đề sau đó chuyển cho B để P hưởng phần trăm. Bích thu của P 21.800 đồng / 1 điểm lô thường, đối với lô xiên B thu cho P 8.300 đồng/ 1 điểm, Đối với Đề cứ 100.000 đồng tiền đề khách mua thì Bích thu của P 83.000 đồng. Mỗi tháng B trả cho P 1.200.000 đồng để P trả tiền công cho D nhưng đến tháng 1 năm 2024, D yêu cầu P trả tiền công đi thu bảng lô, đề là 3.600.000 đồng/ 1 tháng ( trong đó B trả cho P 3.000.000 đồng còn P phải bỏ ra 600.000 đồng trả cho D). Sau khi có kết quả sổ số kiến thiết miền B mở trong ngày thì B sẽ chốt các bảng lô, đề với P để thanh toán tiền phần trăm và tiền thắng thua với P.

Để có bảng lô đề chuyển cho B như đã thỏa thuận nêu trên, P liên hệ thỏa thuận với Nguyễn Văn Y, Đỗ Thị L và Nguyễn Văn T6 làm thư ký bán số lô, số đề cho khách rồi chuyển bảng lô đề cho P, cụ thể : 01 điểm Lô thường T6, Y, Lương thu của khách chơi 23.000 đồng, chuyển cho P 22.000 đồng được hưởng lợi 1.000 đồng/01 điểm Lô; 01 điểm lô xiên 2 và xiên 3 Thịnh, Y, Lương thu của khách chơi 10.000 đồng chuyển cho P 8.500 đồng được hưởng lợi 1.500 đồng/01 điểm Lô xiên); Đối với đề, thu của khách 100.000 đồng tiền Đề thì chuyển cho P 85.000đồng được hưởng lợi 15.000 đồng. Y, L và T6 quy định cách chơi và thanh toán tiền với khách, như sau: Khách sẽ chọn mua số Lô, số Đề bất kỳ từ số 00 đến 99 với số tiền tùy ý. Nếu số Đề mà khách chơi mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt (kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày) thì sẽ trúng và được trả gấp 80 lần số tiền mà họ đã mua số đó (1 x 80). Nếu số Lô đơn mà người chơi mua trùng với 02 số cuối của tất cả các giải trong kết quả sổ xố miền B kể cả giải đặc biệt ra trong ngày thì người chơi được trả gấp 80 lần số điểm đã mua (1 điểm x 80), cứ 01 điểm lô người mua phải trả Y, L và T6 23.000 đồng. Đối với Lô xiên 2 khách mua 01 điểm thì phải trả cho Y, L và T6 10.000 đồng; Nếu 02 số Lô khác nhau mà khách mua trùng với 02 số cuối của tất cả các giải trong kết quả sổ xố miền B kể cả giải đặc biệt ra trong ngày thì người chơi được trả gấp 10 lần số tiền đã mua. Đối với L2 xiên 3 khách mua 01 điểm lô xiên 3 thì phải trả cho Y, L và T6 10.000 đồng; Nếu ba số Lô khác nhau mà khách mua trùng với 03 số cuối của tất cả các giải trong kết quả sổ xố miền B kể cả giải đặc biệt ra trong ngày thì người chơi được gấp 40 lần số tiền đã mua. Khi mua số L2, số Đề, người chơi sẽ đọc số Lô, Đ, để Y, L và T6 ghi các con số và số tiền người chơi mua vào một tờ giấy, gọi là “Bảng”, sau đó tiếp tục ghi vào một mảnh giấy nhỏ, gọi là “Cáp”. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày, nếu người chơi mà trúng sẽ mang “Cáp” đến thanh toán tiền trúng thưởng với Y, L và T6. Bảng Lô, Đ bán được trong ngày sẽ được Y, L và T6 sao thành 02 bảng ( trong đó 01 bảng giao cho D còn lại Y, L và T6 giữ để đối chiếu thanh toán thắng thu với khách mua và P). Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 03/01/2024, D đã thu 03 bảng lô đề của Y, T6 và L đang trên đường đến giao cho B thì bị Cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ.

Tang vật thu giữ của Phạm Thị D gồm: 03 (ba) tổ giấy có kích thước khác nhau, bên trong có ghi các chữ số (D cung cấp là các bảng lô đề mà D thu của các thư ký ghi lô đề cho bà T7) (BL số 174); 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12Promax vỏ màu vàng, bên trong sử dụng sim số: 0979932546, máy cũ đã qua sử dụng (BL số 175) ; 01 (một) Xe máy nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 29N1- 567.66; số khung: 4513GY862683; số máy: JF45E0927564 (BL số 177)

Tang vật thu giữ của Nguyễn Văn Y gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy Note 8, vỏ màu đen, bên trong sử dụng sim số 0342.235.1782; 01 sổ kết quả màu trắng có gáy dán băng dính màu xanh; 02 bảng ghi lô đề ngày 03/01/2024 và số tiền 3.000.000 (ba triệu đồng) (BL số 207)

Ngày 04/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện G khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thị D ở Thôn T, D, G, Hà Nội và khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T6 ở Thôn T, D, G, Hà Nội nhưng đều không phát hiện thu giữ vật gì liên quan đến hành vi đánh bạc.

Ngày 05/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện G, khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn Y ở Thôn T, D, G, Hà Nội và khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Thị L ở Thôn T, D, G, Hà Nội nhưng đều không phát hiện thu giữ vật gì liên quan đến hành vi đánh bạc.

Ngày 07/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện G, khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị B ở Thôn H N, G, Hà Nội và khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Thị P ở Thôn T, D, G, Hà Nội nhưng đều không phát hiện thu giữ vật gì liên quan đến hành vi đánh bạc.

Qua điều tra xác định, ngày 03/01/2024, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Văn Y, và Đỗ Thị L đã bán số số Lô số Đề cho người khác không biết tên, tuổi, địa chỉ với tổng số tiền là là 23.161.000 đồng (trong đó, T6 bán số lô số đề được số tiền là 4.109.000 đồng (trong đó tiền đề:1.809.000 đồng, tiền lô 2.300.000 đồng); Y bán số lô, số đề được số tiền là 10.247.000 đồng ( trong đó tiền đề 5.134.000 đồng, tiền lô thường 4.853.000 đồng; lô xiên là 260.000 đồng); L bán số lô, số đề được số tiền là 8.805.000 đồng (trong đó tiền Đề là 3.515.000 đồng, tiền Lô là 5.290.000 đồng).

Tại Kết luận giám định số 1640/KL-KTHS ngày 04/3/2024, của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chữ viết, chữ số trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 với chữ viết, chữ số đứng tên Nguyễn Văn Y trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là chữ do cùng một người viết ra.

Tại Kết luận giám định số 1656/KL-KTHS ngày 04/3/2024, của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Chữ viết, chữ số trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) với chữ viết, chữ số đứng tên Đỗ Thị L trên các mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3) là chữ do cùng một người viết ra”.

Tại Kết luận giám định số 1253/KL-KTHS ngày 02/02/2024, của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Chữ viết, chữ số trên mẫu cần giám định ký hiệu A với chữ viết, chữ số đứng tên Nguyễn Văn T6 trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M3 là chữ do cùng một người viết ra”.

Tại bản cáo trạng số 71/CT-VKSGL, ngày 11/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố các bị cáo: Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P và Phạm Thị D về tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự và Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện G giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P và Phạm Thị D đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L đủ yếu tố cấu thành tội về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P và Phạm Thị D

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 321, điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L.

- Về hình phạt:

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B mức án từ 18 tháng đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 36 tháng đến 40 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị B cho UBND xã N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Thị P mức án từ 16 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 32 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án.

Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Thị D mức án từ 14 tháng đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 tháng đến 32 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Đỗ Thị P và Phạm Thị D cho UBND xã D giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Y mức án từ 08 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án.

Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Thị L mức án từ 08 tháng đến 10 tháng tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L cho UBND xã D giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền: 3.000.000 đồng là số tiền các bị cáo Nguyễn Văn Y liên quan đến hành vi phạm tội; Trả lại bị cáo Phạm Thị D 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12Promax vỏ màu vàng và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 29N1- 567.66; số khung: 4513GY862683; số máy: JF45E0927564; Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Y 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy Note 8, vỏ màu đen.

Yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn Y phải truy nộp số tiền 7.247.000 đồng, bị cáo Đỗ Thị L phải truy nộp số tiền 8.805.000 đồng.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin HĐXX xem xét cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội và hứa sẽ trở thành người công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt:

    Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P, Phạm Thị D, Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

    Ngày 03/01/2024 tại thôn T, D, G, Hà Nội, các bị cáo Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P, Phạm Thị D đã có hành vi tổ chức cho Nguyễn Văn Y, Đỗ Thị L và Nguyễn Văn T6 đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức bán số L2, số Đề cho người khác với tổng số tiền dùng để đánh bạc 23.161.000 đồng (trong đó S tiền bị cáo Nguyễn Văn Y dùng để đánh bạc là 10.247.000 đồng; Số tiền bị cáo Đỗ Thị L dùng để đánh bạc là 8.805.000 đồng). Các bị cáo chưa kịp thu lời từ việc tổ chức đánh bạc thì bị phát hiện.

    Đây là vụ án đồng phạm trong đó bị cáo Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P là người chủ mưu, thực hành tích cực còn bị cáo Phạm Thị D là người giúp sức tích cực trong việc tổ chức đánh bạc; các bị cáo Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L có vai trò là người thực hành tích cực trong việc đánh bạc.

  3. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P, Phạm Thị D đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

    Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L đủ yếu tố cấu thành tội về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

  4. Viện Kiểm sát nhân dân huyện G đề nghị truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
  5. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội được Bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Do vậy, cần phải nghiêm trị đối với các bị cáo.
  6. Về tình tiết tăng nặng: Tại hồ sơ vụ án, các bị cáo Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P, Phạm Thị D, Nguyễn Văn Y, Đỗ Thị L và đối tượng Nguyễn Văn T6 khai nhận: Y, L và T6 bắt đầu bán số lô số đề cho khách khoảng từ năm 2022 sau đó chuyển bảng lô, đề cho P để P chuyển bảng lô, đề cho B hưởng lợi nhưng các bị cáo không còn lưu giữ các bảng Lô, Đ và không nhớ tổng số tiền bán số Lô, số Đề của từng ngày. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không thu giữ được tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo trong khoảng thời gian trên nên không có đủ cơ sở kết luận các bị cáo B, P, D, Y và L phạm tội 02 lần trở lên. Do vậy các bị cáo Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P, Phạm Thị D, Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  7. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P, Phạm Thị D, Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

    Các bị cáo Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Các bị cáo Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P, Phạm Thị D phạm tội lần đầu nên được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

  8. Về nhân thân các bị cáo: Ngày 04/10/2006, bị cáo Phạm Thị D bị Công an huyện G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 500.000 đồng về hành vi Đánh bạc. D đã nộp tiền phạt ngày 6/11/2006 nên tiền sự này đã được xóa. Do vậy bị cáo được coi như chưa có tiền án tiền sự và phạm tội lần đầu.
  9. Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội cùng nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị B, Phạm Thị D, Đỗ Thị P, Nguyễn Văn Y, Đỗ Thị L hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đảm bảo việc giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung, cũng như thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, cho các bị cáo cơ hội tự cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội.
  10. Về mức hình phạt:

    Đây là vụ án đồng phạm, trong đó các bị cáo Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P là người chủ mưu, thực hành tích cực. Do đó mức hình phạt của B là cao nhất, sau đó đến mức hình phạt của bị cáo P.

    Bị cáo Phạm Thị D là người giúp sức tích cực trong việc đánh bạc. Tuy không có tiền án tiền sự nhưng bị cáo D có nhân thân xấu. Do đó mức hình phạt của D phải bằng với mức hình phạt của bị cáo P.

    Bị cáo Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L cùng có vai trò là người thực hành tích cực trong việc đánh bạc nên mức hình phạt áp dụng với Y và L là bằng nhau.

  11. Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
  12. Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về nhân thân của các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, tuy nhiên về hình phạt có phần nghiêm khác.
  13. Về xử lý vật chứng:
    • + Đối với số tiền: 3.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn Y là số tiền của bị cáo Nguyễn Văn Y là số tiền dùng vào việc phạm tội. Do đó cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
    • + Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12Promax vỏ màu vàng thu giữ của Phạm Thị D, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy Note 8, vỏ màu đen thu giữ của Nguyễn Văn Y không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.
    • + Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 29N1- 567.66; số khung: 4513GY862683; số máy: JF45E0927564 thu giư của Phạm Thị D mặc dù liên quan đến hành vi phạm tội nhưng là tài sản chung của bị cáo D và chồng là anh Nguyễn Văn T5. Anh T8 không biết việc D sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội nên trả lại chiếc xe trên cho anh T8 .

    Bị cáo Nguyễn Văn Y dùng số tiền 10.247.000 đồng để đánh bạc. Công an huyện G đã thu giữ của bị cáo Y số tiền là 3.000.000 đồng nên bị cáo còn phải truy nộp số tiền 7.247.000 đồng. Bị cáo Đỗ Thị L dùng số tiền 8.805.000 đồng để đánh bạc nên bị cáo phải truy nộp số tiền là 8.805.000 đồng.

  14. Về các vấn đề khác:

    Đối với Nguyễn Văn T6: Quá trình điều tra xác định số tiền T6 dùng vào việc đánh bạc là 4.109.000 đồng, xét hành vi của T6 chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện G đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn T6 là đúng quy định của pháp luật.

    Đối với những người đã mua số Lô, số Đề các ngày trước đó của Nguyễn Văn Y, Nguyễn Văn T6 và Đỗ Thị L vào ngày 03/01/2024 nhưng Y, T6, L không biết tên, địa chỉ. Do vậy Cơ quan điều tra- Công an huyện G, không có căn cứ để xử lý.

  15. Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về xử lý vật chứng, về hình phạt bổ sung và các vấn đề khác là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
  16. Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P, Phạm Thị D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Y, Đỗ Thị L phạm tội “Đánh bạc”

    Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Nguyễn Thị B, Phạm Thị D, Đỗ Thị P

    Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo: Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L

    • - Xử phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng tính từ ngày tuyên án.
    • Giao bị cáo Nguyễn Thị B về UBND xã N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
    • - Xử phạt bị cáo Đỗ Thị P 13 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 26 tháng tính từ ngày tuyên án.
    • - Xử phạt bị cáo Phạm Thị D 13 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 26 tháng tính từ ngày tuyên án.
    • Giao các bị cáo Đỗ Thị P và Phạm Thị D cho UBND xã D giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Y 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án.
    • -Xử phạt bị cáo Đỗ Thị L 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án.
    • Giao các bị cáo Đỗ Thị P, Phạm Thị D, Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L cho UBND xã D giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  3. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền: 3.000.000 đồng là số tiền của bị cáo Nguyễn Văn Y liên quan đến hành vi phạm tội. Hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G theo Biên lai nộp tiền số 3891 ngày 24/4/2024.
    • - Trả lại bị cáo Phạm Thị D 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12Promax vỏ màu vàng.
    • - Trả lại anh Nguyễn Văn T5 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 29N1- 567.66; số khung: 4513GY862683; số máy: JF45E0927564 .
    • - Trả lại bị cáo Nguyễn Văn Y 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy Note 8, vỏ màu đen.

    Toàn bộ số vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện G theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 19/4/2024.

    Bị cáo Nguyễn Văn Y phải truy nộp số tiền 7.247.000 đồng

    Bị cáo Đỗ Thị L phải truy nộp số tiền 8.805.000 đồng

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: Các bị cáo Nguyễn Thị B, Đỗ Thị P, Phạm Thị D, Nguyễn Văn Y và Đỗ Thị L, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - VKS nhân dân huyện G;
  • - UBND xã, phường nơi bị cáo cư trú (thay cho thông báo kết quả xét xử);
  • - Công an huyện G;
  • - Chi cục THADS huyện G;
  • - Bị cáo và những người TGTT khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa

Tạ Thị Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 62/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số quyết định: 62/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HSST Nguyen Thi Bich va dong pham
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger