TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 616/2025/QĐST-HNGĐ | Thành phố Thủ Đức, ngày 25 tháng 3 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Danh Đời.
- - Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Trần Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết Việc dân sự thụ lý số 3020/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/12/2024 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con" theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 1845/2025/QĐST-DS ngày 11/3/2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- - Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Hoàng Thị C, sinh năm 1982.
- Địa chỉ: B Đường số I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
- - Người đại diện ủy quyền: Ông Trần Thường P, sinh năm 1954. Địa chỉ: Thôn G, phường L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, (vắng mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Quốc L, sinh năm 1982.
- Địa chỉ: B Đường số I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Theo Đơn yêu cầu và quá trình tham gia tố tụng, người yêu cầu – bà Hoàng Thị C trình bày: Tôi và ông Hoàng Quốc L yêu nhau nhưng bị gia đình ngăn cản, đến tháng 8/2008 hai chúng tôi tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy Chứng nhận Đăng ký kết hôn số 20, quyển 01/2008 ngày 23/4/2008 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình nhưng thực tế chúng tôi không sống chung. Tôi thì sống ở phường T, Quận B còn ông L thì sống ở quận T. Từ năm 2004, tôi có làm điều dưỡng chăm sóc cho ông Hồ Đức H sống ở phường T, được vài tháng thì tôi dọn qua ở chung cho tiện chăm sóc, ông H xem tôi như người thân trong gia đình. Do lúc đó ông H chỉ sống một mình, không có vợ con, bản thân lại bị bệnh cần người chăm sóc nên tôi dọn qua ở chung với ông. Thời gian sau giữa tôi và ông H phát sinh tình cảm và chung sống với nhau như vợ chồng, kết quả có chung với nhau người con là cháu Hoàng Nhân K (sinh ngày 19/3/2009) nhưng tôi không cho ông L biết. Sau khi sinh, cháu K được ông H xem như người trong nhà, nhưng do sợ giữ tôi và ông L rạn nứt hôn nhân nên ông H không yêu cầu xác định cha con, song song đó ông hà chỉ nhận cháu K làm con nuôi. Tuy nhiên, do ông lớn tuổi và cháu K cũng lớn nên thủ tục nhận con nuôi không thực hiện được. Để thể hiện mong muốn này, ông có lập vi bằng để làm chứng. Sau này tôi mới biết được, trong thời gian sống chung, ông H có làm xét nghiệm ADN quan hệ huyết thống cha con với cháu K, việc ông H tự xét nghiệm tôi và ông L không được biết, sau này khi ông bệnh nặng thì ông mới nói và đưa kết quả xét nghiệm cho tôi. Trong thời gian tôi chưa tiến hành làm thủ tục xác nhận cha con thì ông H mất. Nay để đảm bảo quyền lợi chính đáng của cháu K, tôi yêu cầu Tòa án căn cứ Kết quả giám định ADN của ông H thực hiện, xác định cháu K là con chung của tôi với ông Hồ Đức H.
- Theo Bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Hoàng Quốc L trình bày: Tôi và bà C yêu nhau nhưng bị gia đình ngăn cản, đến tháng 8/2008 hai chúng tôi tự nguyện dăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình cấp Giấy Chứng nhận Đăng ký kết hôn số 20, quyển 01/2008 ngày 23/4/2008, tuy nhiên vì hoàn cảnh nên hai chúng tôi thực tế không sống chung với nhau nhiều. Tôi thì sinh sống ở T còn bà C thì sống ở phường T, Quận B và đi làm thuê thường xuyên ở nhà ông Hồ Đức H. Đến giữa năm 2008, thì bà C mang thai và đầu tháng 9 thì hạ sinh một bé trai đặt tên là Hoàng Nhân K (sinh ngày 19/3/2009), thời điểm này do tôi và bà C là vợ chồng, có Giấy đăng ký kết hôn nên tôi đi khai sinh cho cháu K lấy tên cha là tôi, mẹ là bà C. Đến khoảng năm 2020, bà C có nói với tôi về việc cháu K không phải là con ruột của tôi với bà C mà là con của ông Hồ Đức H nhưng tôi không có ý kiến gì vì tại thời điểm này tôi thấy bà C, cháu K được ông H xem như người trong nhà, ông H còn mong muốn nhận cháu K là con nuôi. Đến sau này, tôi biết được quá trình cháu K sống chung với ông H thì ông H có làm xét nghiệm ADN, kết quả là cháu K và ông H có mối quan hệ huyết thống cha con với nhau. Nay bà C yêu cầu Tòa án xác định cháu K là con ruột của ông H và bà C thì tôi không có ý kiến gì vì kết quả xét nghiệm đã sáng tỏ. Vì quyền lợi chính đáng của cháu K nên tôi thống nhất và đồng ý với yêu cầu của bà C, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự:
+ Về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng giải quyết việc dân sự, Thư ký tại phiên họp đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định tại Chương XXIII Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (sau đây viết là BLTTDS); việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 68, 70 BLTTDS.
+ Về nội dung : Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 371, Điều 372 của BLTTDS; Điều 88, Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thị C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên họp, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Hoàng Thị C cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, có yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự về việc xác định ông Hồ Đức H (đã chết) là cha đẻ của cháu Hoàng Nhân K nên đây là yêu cầu xác định cha cho con theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và khoản 10 Điều 29 BLTTDS.
Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm t khoản 2 Điều 39 BLTTDS, vụ việc trên thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên họp, bà C, người đại diện theo ủy quyền của bà C, ông L có đơn đề nghị vắng mặt. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 367 BLTTDS, Tòa án tiếp tục mở phiên hợp giải quyết theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung yêu cầu:
- Bà Hoàng Thị C và ông Hoàng Quốc L là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 20, quyển 01/2008 ngày 23/4/2008 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình; trong thời kỳ hôn nhân, hai người không thường xuyên sống chung với nhau, ông L thì sinh sống và làm việc ở quận T, còn bà C thì sinh sống, làm việc ở Quận B. Thời gian này, bà C làm điều dưỡng và chăm sóc sức khỏe tại nhà cho ông Hồ Đức H, sau đó dọn qua ở chung nhà với ông H tại phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2009, bà C sinh cháu trai đặt tên là Hoàng Nhân K (sinh ngày 19/3/2009). Từ nhỏ, bà C cùng cháu K thường xuyên sinh sống chung nhà với ông H. Trước khi mất, ông H có viết “Giấy nhận con” đề ngày 26/3/2024 có lập vi bằng ghi nhận (theo Vi bằng số 99/2024/VB-TPLMN ngày 27/3/2024 của Văn phòng T). Ông Hồ Đức H chết ngày 20/6/2024 theo Trích lục khai tử số 23/2024/TLKT ngày 20/6/2024 của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình yêu cầu giải quyết vụ việc, bà C có cung cấp cho Tòa án Kết quả xét nghiệm ADN số 394GV/07.22/ADN ngày 29/7/2022 của Công ty TNHH Đ và đề nghị Tòa án căn cứ Kết quả giám định nêu trên để giải quyết việc dân sự theo quy định.
- Ngày 06/02/2025, Tòa án có ban hành Văn bản số 172/TATĐ về việc yêu cầu Công ty TNHH Đ cung cấp thông tin, hồ sơ liên quan đến quá trình xét nghiệm, làm rõ đối với Kết quả xét nghiệm ADN số 394GV/07.22/ADN nêu trên.
Tại Văn bản trả lời đề ngày 21/3/2025 của Công ty TNHH Đ thể hiện: Ngày 27/7/2022, ông Hồ Đức H có yêu cầu đăng ký xét nghiệm ADN với cháu Hoàng Nhân K; kết quả xét nghiệm: Người có mẫu ghi tên Hồ Đức H (ký hiệu B394GV.22) có quan hệ huyết thống C1 – Con với người có mẫu ghi tên Hoàng Nhân K (ký hiệu C394GV.22), độ tin cậy 99,99999%. Công ty TNHH Đ sẽ chịu mọi trách nhiệm về độ chính xác của kết quả ADN mà công ty đã phân tích dựa trên hai mẫu ADN thu trực tiếp”.
Do vậy, Tòa án có đủ cơ sở kết luận ông Hồ Đức H là cha đẻ của cháu Hoàng Nhân K theo Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với nhận định trên của Tòa án nên chấp nhận toàn bộ.
[4] Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Đây là việc dân sự yêu cầu xác định cha cho con đối với con chưa đủ 18 tuổi nên người yêu cầu được miễn lệ phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2, 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 88, Điều 101 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, năm 2022;
- - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 36 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thị C.
- - Xác định ông Hồ Đức H (sinh năm 1945; Căn cước công dân số: [...]; chết ngày 20/6/2024) là cha đẻ của cháu Hoàng Nhân K (sinh ngày 19/3/2009) có Giấy khai sinh số 366, quyển 01/2009 đăng ký ngày 08/4/2009 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bà Hoàng Thị C, ông Hoàng Quốc L, cháu Hoàng Nhân K (hoặc những người được bà C, ông L, cháu K ủy quyền hợp pháp) được liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm các thủ tục đăng ký, đính chính khai sinh, hộ tịch theo quy định.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Hoàng Thị C được miễn lệ phí việc dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Hoàng Thị C, ông Hoàng Quốc L được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (ĐÃ KÝ) Danh Đời |
Quyết định số 616/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về yêu cầu xác định cha cho con
- Số quyết định: 616/2025/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: yêu cầu xác định cha cho con
