TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 613/2025/QĐST-HNGĐ | Thành phố Thủ Đức, ngày 24 tháng 3 năm 2025. |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ vào Điều 212, Điều 213 Điều 361 và Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 55, 57, 58, Điều 81 82, 83, 85 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý sơ thẩm số 173/2025/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 02 năm 2025 về việc “Thuận tình ly hôn” giữa những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- - Ông Phạm Trọng T, sinh năm 1994;
- - Bà Đỗ Thị Thúy N, sinh năm 1999;
- - Cùng địa chỉ: 23.20 tầng 23 tòa chung cư S7.02 (Dự án khu dân cư và công viên P) 88 P, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Yêu cầu thuận tình ly hôn là loại việc dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo qui định tại khoản 2 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự đang cư trú tại thành phố T nên việc dân sự này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về các yêu cầu của các đương sự:
Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55, cấp ngày 31/7/2019 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai thì quan hệ hôn nhân giữa ông Phạm Trọng T và bà Đỗ Thị Thúy N là hợp pháp.
Căn cứ theo Đơn yêu cầu, các bản tự khai và biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành có trong hồ sơ, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, nhận thấy:
Quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà N là tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp. Trong đời sống vợ chồng, ông T và bà N phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn tình cảm, không thể giải quyết hết trách nhiệm giữa vợ chồng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cả ông T và bà N tự nguyện thuận tình ly hôn. Tại phiên hòa giải đoàn tụ, ông T và bà N không mong muốn được đoàn tụ vợ chồng và thống nhất yêu cầu Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn và công nhận sự thỏa thuận của ông, bà:
- - Về con chung: Ông Phạm Trọng T và bà Đỗ Thị Thúy N cùng thừa nhận có 01 con chung tên là Phạm Tuệ L, sinh ngày 13/07/2021. Ông T và bà N thỏa thuận giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Phạm Trọng Trung cấp D nuôi con chung là 10.000.000 đồng/tháng (Mười triệu đồng/tháng) cho đến khi con chung thành niên và tự lập hoặc được thay đổi, chấm dứt theo quy định của pháp luật. Giao tiền từ ngày 25 đến ngày 30 hàng tháng, bắt đầu thực hiện từ tháng 3/2025 trở đi.
Kể từ ngày bà Đỗ Thị Thúy N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Phạm Trọng T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo đúng thời hạn nêu trên, thì hàng tháng ông Phạm Trọng T còn phải chịu trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm, nếu không có thỏa thuận thì mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn được qui định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thi hành án dưới sự giám sát của Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Không ai có quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các điều 81, điều 82, điều 83, điều 84 và điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Về tài sản chung và nợ chung: Ông Phạm Trọng T và bà Đỗ Thị Thúy N xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Xét sự nội dung thỏa thuận trên của đương sự là không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
sau:
Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự như
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Trọng T và bà Đỗ Thị Thúy N thuận tình ly hôn.
Quyền và nghĩa vụ vợ chồng giữa ông T và bà N theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55, cấp ngày 31/7/2019 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai, được chấm dứt kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành.
- - Về con chung: Giao cho bà Đỗ Thị Thúy N được quyền trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Phạm Tuệ L, sinh ngày 13/07/2021.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Phạm Trọng T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là 10.000.000 đồng/tháng (Mười triệu đồng/tháng) cho đến khi con chung thành niên và tự lập hoặc được thay đổi, chấm dứt theo quy định của pháp luật. Giao tiền từ ngày 25 đến ngày 30 hàng tháng, bắt đầu thực hiện từ tháng 3/2025 trở đi.
Kể từ ngày bà Đỗ Thị Thúy N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Phạm Trọng T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo đúng thời hạn nêu trên, thì hàng tháng ông Phạm Trọng T còn phải chịu trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm, nếu không có thỏa thuận thì mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn được qui định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thi hành án dưới sự giám sát của Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Không ai có quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các điều 81, điều 82, điều 83, điều 84 và điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Về tài sản chung và nợ chung: Ông Phạm Trọng T và bà Đỗ Thị Thúy N xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về lệ phí Tòa án: Lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, ông Phạm Trọng T và bà Đỗ Thị Thúy N chịu, được trừ vào số tiền lệ phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0079447 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức lập ngày 21 tháng 01 năm 2025. Ông T và bà N đã nộp đủ lệ phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Lương Thị Thu |
Quyết định số 613/2025/QĐST-HNGĐ ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 613/2025/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Trọng Trung, Đỗ Thị Thúy Nga - Thuận tình ly hôn
