|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 61/2025/QĐST-HNGĐ |
Tân Bình, ngày 03 tháng 02 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Điều 212, Điều 213 và Điều 397 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 55, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 13/2025/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
1/ Bà Trương Thị Mỹ T, sinh năm 1979
Địa chỉ: đường C, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Ông Phạm Bá H, sinh năm 1972
Địa chỉ: đường C, Phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/02/2006 thì ông Phạm Bá H và bà Trương Thị Mỹ T là vợ chồng hợp pháp, nay cả hai yêu cầu được công nhận thuận tình ly hôn là phù hợp với quy định của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét thỏa thuận của các đương sự:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Bá H và bà Trương Thị Mỹ T tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, gia đình tổ chức lễ cưới và sống chung từ năm 2006. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống, tính cách không phù hợp, dù cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không được. Vợ chồng không còn tiếng nói chung, không có sự yêu thương, quan tâm, chia sẻ, ly thân từ tháng 10 năm 2021 đến nay. Nhận thấy cuộc sống chung không còn ý nghĩa, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông bà cùng đề nghị Tòa công nhận sự thỏa thuận ly hôn của ông bà, do đó yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của ông H và bà T là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên ghi nhận.
[3] Về con chung: Có 02 con chung tên Phạm Trương Hồng A, sinh ngày 01/06/2006 và Phạm Trương K, sinh ngày 02/01/2019. Ly hôn, hai bên thỏa thuận giao con chung tên Phạm Trương Kiên, sinh ngày 02/01/2019 cho bà Trương Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Phạm Bá H không cấp dưỡng nuôi con do bà T không yêu cầu. Riêng con chung tên Phạm Trương Hồng A đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thỏa thuận về nuôi con của ông H và bà T là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình nên ghi nhận.
[4] Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận nên Tòa án không xem xét.
[5] Về nợ chung: Hai bên khai không có nên Tòa án không xem xét.
[6] Về lệ phí Tòa án: Lệ phí là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do ông Phạm Bá H và bà Trương Thị Mỹ T chịu.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Bá H và bà Trương Thị Mỹ T thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung tên Phạm Trương K, sinh ngày 02/01/2019 cho bà Trương Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Phạm Bá H do bà Trương Thị Mỹ T không yêu cầu. Riêng con chung tên Phạm Trương Hồng A đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận.
- Về nợ chung: Hai bên khai không có.
- Về lệ phí Tòa án : 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do ông Phạm Bá H và bà Trương Thị Mỹ T nộp, được trừ vào 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng lệ phí mà ông, bà đã nộp theo Biên lai thu số 0003114 ngày 26/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Trương Ngọc Tâm |
Quyết định số 61/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 61/2025/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông Phạm Bá H và bà Trương Thị Mỹ T yêu cầu được công nhận thuận tình ly hôn
