Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 593/2024/QÐST-HNGĐ

Quận G, ngày 30 tháng 8 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ vào Khoản 4 Điều 397, Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 55, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 489/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Ông Trần Văn H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số C T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bà Trần Thị B, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ 1, ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị B và ông Trần Văn H qua thời gian tìm hiểu thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn vào năm 2014 (Giấy chứng nhận kết hôn số 93/2014, quyển số 01 đăng ký ngày 10/9/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp).

Nguyên nhân mâu thuẫn theo ông H và bà B cùng trình bày: Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng do cả hai có quan điểm khác nhau về mọi mặt trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Từ những cãi vã, bất hòa nhỏ trong cuộc sống dần dần tích tụ lâu ngày thành mâu thuẫn trầm trọng không thể dung hòa được nữa. Vợ chồng không thể tìm được tiếng nói chung nên cả hai không quan tâm, ít chia sẽ và từ từ tình cảm vợ chồng lạnh nhạt. Khi những mâu thuẫn bắt đầu diễn ra cả hai vợ chồng đã cùng nhau ngồi lại tìm cách giải quyết làm hòa để gia đình hạnh phúc, con sống cùng với cả cha lẫn mẹ nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay không còn tình cảm với nhau, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc nên ông H và bà B yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

[2] Về con chung: Ông Trần Văn H và bà Trần Thị B có 01 (Một) con chung họ tên là: Trần Ngọc Bảo C (Giới tính: nữ), sinh ngày 14/8/2014. Sau khi ly hôn ông H và bà B thỏa thuận như sau: Bà B là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; ông H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp dưỡng vào ngày 05 dương lịch hàng tháng, bắt đầu thi hành vào tháng 9/2024. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không trái quy định pháp luật nên Tòa án ghi nhận.

[3] Về tài sản chung: Ông Trần Văn H và bà Trần Thị B xác nhận không có, nên Tòa án ghi nhận.

[4] Về nợ chung: Ông Trần Văn H và bà Trần Thị B xác nhận không có, nên Tòa án ghi nhận.

[5] Về lệ phí: Ông Trần Văn H và bà Trần Thị B chịu tiền lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
    1. Về hôn nhân: Ông Trần Văn H và bà Trần Thị B thuận tình ly hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 93/2014, quyển số 01 đăng ký ngày 10/9/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp).
    2. Về con chung: Ông Trần Văn H và bà Trần Thị B có 01 (Một) con chung, họ tên là: Trần Ngọc Bảo C (Giới tính: nữ), sinh ngày 14/8/2014.

      Sau khi ly hôn ông H và bà B thỏa thuận như sau: Giao con chung là trẻ Trần Ngọc Bảo C cho bà B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ông H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 (Hai triệu) đồng, cấp dưỡng vào ngày 05 dương lịch hàng tháng, bắt đầu thi hành vào tháng 9/2024 cho đến khi phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

      Trong trường hợp ông Trần Văn H chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì ông H phải chịu thêm tiền lãi của số tiền chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.

      Ông Trần Văn H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, vì quyền lợi của con, khi có yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

    3. Về tài sản chung: Ông Trần Văn H và bà Trần Thị B xác nhận không có.
    4. Về nợ chung: Ông Trần Văn H và bà Trần Thị B xác nhận không có.
  2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Các đương sự chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số 0019730 ngày 02/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự đã nộp đủ lệ phí.
  3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

THẨM PHÁN

Hà Thị L

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 593/2024/QÐST-HNGĐ ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về công nhận thuận tình ly hôn

  • Số quyết định: 593/2024/QÐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Bé và ông Trần Văn H yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger