Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:58/2024/QÐST- HNGĐ

Hải Dương, ngày 31 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên, tham gia phiên họp.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 351/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/7/2024, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn ", theo Quyết định mở phiên họp số 341/2023/QĐMPH-HNGĐ ngày 16/7/2023, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

* Người yêu cầu:

  1. Chị Vũ Thị D, sinh ngày 23/6/1973.
  2. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    Hiện ở: Cộng hòa Séc.

  3. Anh Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 05/02/1972.
  4. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    Hiện ở: Kosmonautu 438 Marianske udoli H1 (Cộng Hòa S).

    Người được anh T ủy quyền giao, nhận văn bản: Bà Lê Thị H, sinh ngày 23/01/1984.

    Địa chỉ: P, TTHC mới, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

    (Chị D, anh T đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt của chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Ngọc T cùng các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện :

Về quan hệ vợ chồng: Anh Nguyễn Ngọc T và chị Vũ Thị D tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N (nay là huyện T), tỉnh Hải Dương ngày 07/12/1992. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh được 4 người con. Năm 1997 anh T sang C Séc lao động, năm 2000 chị D cũng sang Cộng hòa Séc lao động. Thời gian đầu vợ chồng sống hòa thuận, cùng nhau làm kinh tế, xây dựng gia đình, nuôi dạy các con trưởng thành. Khoảng năm 2023 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm thấy tiếng nói chung. Hai bên sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay anh T và chị D đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và thống nhất để anh T về Việt Nam làm thủ tục ly hôn, đề nghị Tòa án công nhận sự thỏa thuận ly hôn cho anh chị.

Về quan hệ con chung : Chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Ngọc T có 4 con chung là Nguyễn Thị Minh N, sinh ngày 05/11/1993; Nguyễn Thị Quỳnh T1, sinh ngày 01/8/1996; Nguyễn Thị Bích N1, sinh ngày 18/7/2006 và Nguyễn Ngọc Anh Đ, sinh ngày 16/8/2013. Hiện nay cháu N, cháu T1, cháu N1 đã trưởng thành, ly hôn anh T và chị D không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết. Cháu Đ đang sinh sống tại Cộng hòa S, ly hôn anh T, chị D thỏa thuận chị D sẽ nuôi cháu Đ, anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị D.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Ngọc T tự thỏa thuận, ly hôn anh chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về lệ phí: Anh Nguyễn Ngọc T tự nguyện chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Cháu Nguyễn Ngọc Anh Đ là con chung của chị D, anh T có nguyện vọng, khi bố mẹ ly hôn xin được ở với mẹ.

Ngày 20/6/2024 anh T về Việt Nam nộp đơn ly hôn, sau đó tiếp tục sang Cộng hòa Séc lao động và ủy quyền cho chị Lê Thị H giao và nhận văn bản tố tụng tại Tòa án. Chị H đồng ý nhận ủy quyền của anh T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ việc: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Ngọc T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của chị D và anh T. Về con chung: Các con Nguyễn Thị Minh N, sinh ngày 05/11/1993; Nguyễn Thị Quỳnh T1, sinh ngày 01/8/1996; Nguyễn Thị Bích N1, sinh ngày 18/7/2006 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Giao con Nguyễn Ngọc Anh Đ, sinh ngày 16/8/2013 cho chị Vũ Thị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chấp nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Ngọc T chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên họp, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Nguyễn Ngọc T và chị Vũ Thị D có địa chỉ trước khi xuất cảnh tại thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện anh T và chị D đang sinh sống tại Cộng hòa S, do vậy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Tài liệu chị D gửi về Việt Nam gồm: Đơn xin ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, đơn đề nghị của cháu Nguyễn Ngọc Anh Đ chưa được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền, do vậy Tòa án đã phải tiến hành trưng cầu giám định. Tại kết luận giám định số 2024/KL-KTHS của Phòng K Công an thành phố H ngày 08/7/2024 xác định, các dấu vân tay in trên các tài liệu gửi giám định với dấu vân tay in tương ứng tại ô ngón trỏ phải, ô ngón trỏ trái trên Chứng minh nhân dân số [...], mang tên Vũ Thị D, sinh ngày 23/6/1973; Nơi thường trú: Ngô Quyền, Thanh M, Hải Dương, cấp ngày 28/8/2015 là của cùng một người. Tài liệu của anh T giao nộp tại Tòa án gồm đơn ly hôn, bản tự khai, giấy ủy quyền có chứng thực của Văn phòng công chứng Nguyễn Thị N2. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung các văn bản chị D, anh T nộp tại Tòa án là đúng ý chí, nguyện vọng của chị D.

Chị D, anh T đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt, nên căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án quyết định mở phiên họp vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Ngọc T được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N (nay là huyện T), tỉnh Hải Dương ngày 07/12/1992, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung. Nay chị D, anh T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và cùng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương công nhận thuận tình ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh chị.
  • - Về con chung: Chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Ngọc T có 4 con chung là Nguyễn Thị Minh N, sinh ngày 05/11/1993; Nguyễn Thị Quỳnh T1, sinh ngày 01/8/1996; Nguyễn Thị Bích N1, sinh ngày 18/7/2006 và Nguyễn Ngọc Anh Đ, sinh ngày 16/8/2013. Hiện nay cháu N, cháu T1, cháu N1 đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét giải quyết. Cháu Đ đang sống cùng mẹ tại Cộng hòa séc. Ly hôn chị D, anh T thỏa thuận chị D nuôi cháu Đ. Cháu Đ cũng có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Xét thấy, việc thỏa thuận của các bên đương sự hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm quyền lợi của cháu Đ. Do đó cần chấp nhận sự thỏa thuận của anh T và chị D, giao cháu Đ cho chị D chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Ngọc T tự thỏa thuận, không đề nghị giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  • [3]. Về lệ phí: Chấp nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Ngọc T chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 55, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Ngọc T với chị Vũ Thị D.
  2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Ngọc T, giao cháu Nguyễn Ngọc Anh Đ, sinh ngày 16/8/2013 cho chị Vũ Thị D nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Anh T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
  3. Anh Nguyễn Ngọc T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  4. Về lệ phí: Anh Nguyễn Ngọc T tự nguyện chịu cả 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 300.000đ theo biên lai thu số 0000822 ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh T đã nộp đủ lệ phí.
  5. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Ngô Quyền;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ.

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 58/2024/QÐST- HNGĐ ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn

  • Số quyết định: 58/2024/QÐST- HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger