Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do – Hạnh Phúc

Số: 570/2025/QĐ-PT

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền
Các Thẩm phán:

1. Bà Vũ Thị Thu Hương

2. Bà Đỗ Thị Hòa

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà An Phương Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Đ với bị đơn là ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Thanh N, tại Bản án sơ thẩm số 1444/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 đã quyết định như sau:

  1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đ về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Thanh N thanh toán nợ.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Thanh N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 27/9/2024 với tổng số tiền nợ gốc và lãi là 6.599.720.767 đồng; trong đó, bao gồm: nợ gốc 2.519.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 311.302.512 đồng; nợ lãi quá hạn 3.540.864.821 đồng; nợ lãi phạt chậm trả 228.553.435 đồng.

    Đồng thời, ông T, bà N còn phải chịu các khoản lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

  3. Việc thanh toán số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phí trên được thực hiện ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  4. Trường hợp ông T, bà N thanh toán xong tất cả các khoản nợ còn thiếu thì Ngân hàng TMCP Đ có nghĩa vụ trả lại cho ông T, bà N các bản chính Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số [...] 874, Hồ sơ gốc số H00824/2009/Binh T, do Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/7/2009; cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 09/7/2015; Thông báo nộp lệ phí trước bạ.
  5. Trường hợp ông T, bà N không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ trên thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 798 tờ bản đồ số 36- TL-2005 tại địa chỉ 9 H, Khu phố H, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sơ hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 797772744803874, Hồ sơ gốc số H00824/2009/ Bình Trị Đông A, do UBND Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/7/2009; cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 09/7/2015 để thu hồi nợ; toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho ông T, bà N.

    Buộc những người đang người trực tiếp quan lý, sử dụng, cho thuê, thuê, cư trú trên tài sản thế chấp mà phát sinh tại thời điểm thi hành án (nếu có) có nghĩa vụ di dời và giao tài sản thế chấp để thi hành án.

    Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết nợ thì ông T, bà N vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng TMCP Đ.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm, về quyền thi hành án và quyền kháng cáo.

Lần lượt các ngày 04/10/2024 và 31/10/2024, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Thanh N có đơn kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm vừa nêu và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án theo hướng tuyên hủy và tuyên vô hiệu các hợp đồng, gồm:

  • Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 0306/2015/HDTC/PVB-CNGD.VVT ngày 11/7/2015,
  • Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai số 0306/2015/HĐTC/PVB-CNGĐ.VVT ngày 11/7/2015;
  • Hợp đồng cho vay số 0306/2015/HDTD/PVB-CNGD.VVT ngày 07/7/2015,
  • Phụ lục số 01 Hợp đồng cho vay số 0306/2015/PLHDTD/PVB-CNGD.VVT ngày 11/7/2015;
  • Khế ước nhận nợ ngày 07/7/2015;
  • Thỏa thuận thanh toán và quản lý tài sản đảm bảo 0306/2015/BBTT/PVB-CNGĐ.VVT ngày 07/7/2015.

Lý do yêu cầu sửa bản án sơ thẩm là:

Ông T và bà N có ký kết với Ngân hàng TMCP Đ (Chi nhánh G) Hợp đồng cho vay số 0306/2015/HĐTD/PVB-CNGĐ.VVT ngày 07/7/2015, Phụ lục số 01 Hợp đồng cho vay số 0306/2015/PLHĐTD/PVB- CNGĐ.VVT ngày 11/7/2015; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 03 06/2015/HĐTC/PVB-CNGĐ.VVT ngày 11/7/2015.

Tại thời điểm đầu cấp tín dụng, ông T1 và bà N đã trình bày rõ với P1 rằng ông bà đang có nợ xấu của tổ chức tín dụng khác, nhưng P1 vẫn tiến hành thủ tục cho vay là vi phạm quy định của pháp luật tín dụng.

Mặt khác, trước khi ký kết các hợp đồng thì ông T, bà N có cung cấp cho P1 giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu, nhưng các bản này là bản photo chứ không phải bản sao y có chứng thực như phía P1 xuất trình.

P1 tự soạn thảo các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp và tự soạn các tài liệu liên quan đến thủ tục vay và yêu cầu ông T, bà N đến Văn phòng C ký kết vào các hợp đồng đã có sẵn chứ không được đọc, hay chỉnh sửa nội dung nên ông T, bà N không phát hiện P1 ghi sai thông tin số chứng minh nhân dân của ông, bà. Việc P1 ghi sai thông tin số chứng minh nhân dân đó là lỗi của Ngân hàng.

Kể từ khi vay ông T, bà N đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ P1 cho đến năm 2017 thì ông T, bà N phát hiện sai thông tin số chứng minh dân nhân nên ngưng không trả nợ. Ông T đã nhiều lần liên hệ với P1 để yêu cầu giải quyết vấn đề này; nhưng P1 cố tình né tránh lỗi sai của P1 không giải quyết dứt điểm; khi ông T đến trụ sở của P1 yêu cầu chỉnh sửa thông tin số chứng minh nhân dân thì được nhân viên của P1 hướng dẫn bằng lời nói yêu cầu gặp nhân viên đã thực hiện thủ tục cho vay để điều chỉnh, nhưng những nhân viên này đã nghỉ việc nên ông T không thể điều chỉnh được; tất cả sự việc chỉ trao đổi bằng lời nói chứ không được lập biên bản.

Ông T xác định các thông tin về ngày, tháng, năm sinh, địa chỉ của ông T, bà N đều đúng; tuy nhiên, số chứng minh nhân dân trong hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp khác với số chứng minh nhân dân trong Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 797772744803874, Hồ sơ gốc số H00824/2009/Bình T, do UBND quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/7/2009; cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 09/7/2015. Việc ghi sai thông tin số chứng minh nhân dân làm thay đổi chủ thể thực hiện các hợp đồng đã ký kết.

Từ những lý do trên, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của P1, tuyên hủy hợp đồng vay, hủy hợp đồng thế chấp; các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận; ông T bà N trả lại số tiền nợ gốc cho P1, P1 trả lại bản chính giấy chủ quyền cho ông T, bà N.

XÉT THẤY:

Quá trình xét xử tại cấp phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật để triệu tập hợp lệ những người kháng cáo là ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thanh N đến phiên tòa, nhưng các ông T, bà N vẫn vắng mặt đến lần thứ hai và không có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, xem như ông T, bà N đã từ bỏ yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các quy định pháp luật để đình chỉ xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ Khoản 2 Điều 148, điểm d Khoản 1 và Khoản 4 Điều 289, Khoản 3 Điều 296, Khoản 5 Điều 308, Khoản 2 Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 192/2025/DSPT ngày 24/02/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, giữa:

    Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ

    Địa chỉ: B N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội;

    Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Nguyễn Tuấn M, sinh năm 1990;

    Địa chỉ: Lầu B - số B L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

    Bị đơn:

    1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975;

    2. Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1977;

    Địa chỉ: 9 Hương lộ B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Nguyễn Thị Bích N1, sinh năm 2002;

    Địa chỉ: 9 Hương lộ B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Trẻ Nguyễn Hoàng Quý P, sinh năm 2008;

    3. Trẻ Nguyễn Hoàng D, sinh năm 2019;

    Người đại diện hợp pháp của trẻ Nguyễn Hoàng Quý P và trẻ Nguyễn Hoàng D: ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Thanh N (ông T bà N là cha mẹ ruột).

    Cùng địa chỉ: 9 Hương lộ B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bản án dân sự sơ thẩm số 1444/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Tòa án nhân dân quận Bình Tân – Thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định này.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị Thanh N và bà Nguyễn Thị Bích N1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông T, bà N đã đã nộp 300.000 đồng lần lượt theo các Biên lai thu số 0043634 ngày 04/10/2024 và số 0048139 ngày 01/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân. Ông T, bà N và bà N1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  4. Quyết định này có hiệu lực thi hành ngay.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND Q.Bình Tân, TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Chi cục THADS Q.Bình Tân;
  • - Đương sự;
  • - Lưu

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 570/2025/QĐ-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số quyết định: 570/2025/QĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đình chỉ xét xử phúc thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger