Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 56/2024/QĐ-PT

Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Nguyễn Nam Thành;

Các Thẩm phán: Ông Vũ Minh Tuấn;

Ông Nguyễn Tiến Dũng.

- Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Nhạn, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp: Ông Đào Trọng Thuyết, Kiểm sát viên cao cấp.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 06/2023/QĐST- DS ngày 12 tháng 6 năm 2023, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã căn cứ vào các Điều 217; Điều 218; Điều 219; khoản 2 Điều 244; khoản 2 Điều 273; Điều 200; khoản 4 Điều 165; khoản 4 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về “Tranh chấp về thừa kế tài sản” giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà T: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1952; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1952 do anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1977 đại diện theo uỷ quyền; đều cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Đ1: Ông Nguyễn Thanh G - Luật sư của Công ty L1, Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: 2 đường H, phường D, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1952; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

+ Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

+ Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1962;

+ Bà Thân Thị Đ2, sinh năm 1962;

+ Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1983;

+ Ông Nguyễn Văn G1, sinh năm 1985;

Đều cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

+ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

(Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn T1, bà Thân Thị Đ2, ông Nguyễn Văn V, anh Nguyễn Văn C, anh Nguyễn Văn G1, chị Nguyễn Thị H đều ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Đ đại diện theo văn bản uỷ quyền ngày 24/12/2021).

+ Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1977; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh M: Ông Nguyễn Thanh G - Luật sư của Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: 2 đường H, phường D, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

+ Chị Thân Thị H1, sinh năm 1980 (là vợ anh Nguyễn Văn M).

+ Cháu Nguyễn Văn T2, sinh năm 2000 (là con anh M, chị H1) do anh Nguyễn Văn M đại diện theo văn bản uỷ quyền ngày 01/02/2023.

+ Cháu Nguyễn Văn D, sinh năm 2007 (là con anh M, chị H1) do anh M, chị H1 đại diện theo pháp luật.

+ Bà Thân Thị Đ3, sinh năm 1947.

+ Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1976.

+ Anh Nguyễn Văn M1, sinh năm 1978.

+ Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1983.

Đều cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

+ Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1981; nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam: Thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang (anh Q đã xuất cảnh ra nước ngoài từ ngày 17/7/2017 nhưng không rõ địa chỉ).

+ Ông Lê Hồng T3, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

+ Ủy ban nhân dân xã T, huyện V do bà Nguyễn Thị H2 công chức địa chính xã T đại diện theo văn bản uỷ quyền số 70/UQ – UBND ngày 19/5/2023.

+ Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang do ông Ngô Thế T4 – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện V đại diện theo Quyết định uỷ quyền số 266/QĐ – UBND ngày 06/3/2023.

Ngày 26/6/2023, bị đơn là bà Nguyễn Thị Đ1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy quyết định số 06/2023/QĐST-DS ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Ngày 20/6/2023, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Thân Thị H1, anh Nguyễn Văn M, bà Thân Thị Đ3 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy quyết định số 06/2023/QĐST-DS ngày 12/6/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; tiếp tục thụ lý vụ án, xét xử và tuyên án.

Tại phiên họp phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị bác kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị Đ1 và bác kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Thân Thị H1, anh Nguyễn Văn M và bà Thân Thị Đ3, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.

XÉT THẤY:

[1] Ngày 26/11/2021, bà Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Đ1 về chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn V1 và cụ Thân Thị B (là bố mẹ của hai bà) để lại là thửa đất số 364, tờ bản đồ số 6, diện tích 398,2 m² tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang (giá trị thửa đất theo giá thị trường tại địa phương bà T tạm tính khoảng 300.000.000 đồng) cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ V1 và cụ B gồm các ông bà: Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị Đ1, Nguyễn Văn V2, Nguyễn Văn C1, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn V. Ông Nguyễn Văn V2 chết năm 2002; những người thừa kế thế vị của ông V2 gồm bà Thân Thị Đ3, chị Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Văn M1, chị Nguyễn Thị H2 và anh Nguyễn Văn Q. Ông Nguyễn Văn C1 chết năm 2011; những người thừa kế thế vị của ông C1 gồm bà Thân Thị Đ2, anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn G1. Bà T xin nhận kỷ phần của mình bằng đất và trích trả cho những người thừa kế khác bằng tiền. Căn nhà ba gian, vợ chồng bà xây dựng, anh M đã phá, bà không yêu cầu anh M bồi thường thiệt hại.

[2] Ngày 09/5/2023, tại đơn trình bày bà Nguyễn Thị Đ1 đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, đồng thời tuyên bố chỉ mẹ con bà Đ1 là những người đã sử dụng đất ổn định, công khai, liên tục hơn 30 năm là những người có đủ tư cách để cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền trên đất.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định lời trình bày nêu trên của bà Nguyễn Thị Đ1 chỉ là ý kiến của bà đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bà Đ1 nêu ý kiến trên khi đã qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải ngày 07/12/2022. Do đó, Tòa án xác định ý kiến của bà Đ1 không phải là yêu cầu phản tố là đúng.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 02/6/2023. Tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang kết thúc bài phát biểu, Hội đồng xét xử chuyển sang phần nghị án. Do vụ án có tính chất phức tạp, Hội đồng xét xử nghị án kéo dài, thông báo cho những người tham gia tố tụng đúng 14 giờ ngày 12/6/2023 có mặt tại phòng xử án để nghe tuyên án. Trong thời gian nghị án, ngày 09/6/2023, bà Nguyễn Thị T đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện; việc rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật. Trong vụ án này, ngoài yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Vì vậy, kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị Đ1 và kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Thân Thị H1, anh Nguyễn Văn M, bà Thân Thị Đ3 là không có cơ sở để chấp nhận, cần giữ nguyên quyết định sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 314 và khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị Đ1 và kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Thân Thị H1, anh Nguyễn Văn M, bà Thân Thị Đ3, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 06/2023/QĐST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Anh Nguyễn Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000111 ngày 10/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

    Chị Thân Thị H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000112 ngày 10/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

    Miễn án phí đối với bà Nguyễn Thị Đ1 và bà Thân Thị Đ3.

  3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu HCTP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP

Nguyễn Nam Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 56/2024/QĐ-PT ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số quyết định: 56/2024/QĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị T + Bà Nguyễn Thị Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger