TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 558/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22-12-2023
Về tranh chấp: Ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Kim Thành
Bà Trịnh Thị Kim Cúc
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 478/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đinh Văn Đ, sinh năm 1973; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: số A đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1974; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: số A đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa có mặt anh Đ, chị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện ngày 16-11-2023 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn anh Đinh Văn Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục tập quán và năm 2001 nhưng đến năm 2003 anh chị mới đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đôi khi cũng xảy ra va chạm nhưng hai bên vẫn khắc phục được vì các con còn nhỏ. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng phát sinh từ năm 2019. Nguyên nhân do cuộc sống chung nảy sinh nhiều bất đồng vợ chồng không hợp nhau về lối sống và tính cách nên thường xuyên xảy ra va chạm đánh cãi chửi nhau. Bản thân chị L hay ghen tuông thái quá làm ảnh hưởng đến cuộc sống công việc sinh hoạt của anh. Anh Đ cũng nhiều lần khuyên nhủ nhưng chị L không có sự thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, hai bên chung sống không có tình cảm, không có hạnh phúc và không có sự tôn trọng lẫn nhau. Vợ chồng đã nhiều lần sống ly thân. Tháng 10 năm 2023 anh Đ đã viết đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, về nhà chị L có hứa sẽ sửa chữa và khắc phục nên anh Đ cũng đã rút đơn khởi kiện, tạo điều kiện cho vợ chồng có cơ hội khắc phục hàn gắn tình cảm nhưng sau đó mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn được mà thêm trầm trọng hơn, vợ chồng liên tục xô xát. Nay xác định vợ chồng không thể hàn gắn được, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên anh Đ đề nghị Tòa án cho anh ly hôn với chị L.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đinh Minh Đ1, sinh ngày 15-3-2003 (giới tính: Nam); Đinh Minh T, sinh ngày 20-11-2013 (giới tính: Nam). Cháu Đ1 hiện đã trên 18 tuổi nên anh Đ không đề nghị Tòa án giải quyết nuôi con chung với cháu Đ1. Còn cháu Đinh Minh T, chị L có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu T, anh cũng nhất trí để chị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Việc cấp dưỡng nuôi con: Anh Đinh Văn Đ tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/ 1 tháng.
- Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Anh Đinh Văn Đ xác định vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại bản tự khai ngày 30-11-2023 và trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn là chị Vũ Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như anh Đinh Văn Đ trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do anh Đ hay đi chơi, theo đánh giá của chị, anh Đ có tình cảm không trong sáng, chị L đã nhắc nhở nhiều lần nhưng anh Đ không thay đổi cách sinh hoạt nên mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng hay xảy ra xô xát. Tháng 10 năm 2023 anh Đ có nộp đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn nhưng chị đã thuyết phục anh Đ rút đơn để vợ chồng có cơ hội hàn gắn tình cảm vì các con nhưng sau đó mâu thuẫn giữa hai vợ chồng vẫn xảy ra nên anh Đ lại làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Quan điểm của chị L là không nhất trí ly hôn.
Về con chung: Chị L nhất trí với quan điểm của anh Đ là cháu Đinh Minh Đ1 hiện đã trên 18 tuổi nên không đề nghị Tòa án giải quyết nuôi con chung với cháu Đ1. Chị có nguyện vọng là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đinh Minh T và nhất trí việc anh Đinh Văn Đ cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/ 1 tháng.
Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Chị Vũ Thị L xác định vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngày 12-12-2023 chị Vũ Thị L nộp đơn đề nghị Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng trong vụ án.
3. Tại đơn đề nghị của cháu Đinh Minh T, sinh ngày 20-11-2013, cháu T trình bày: Cháu là con của bố Đinh Văn Đ và mẹ Vũ Thị Len. Nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng ở với mẹ là chị Vũ Thị Len.
4. Tại đơn đề nghị ngày 20-11-2023 của anh Đinh Văn Đ có xác nhận của địa phương nơi anh Đ và chị Len cư t: Anh Đ và chị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng kí kết hôn tại UBND phường N, thành phố N. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống vợ chồng không hợp. Tháng 10 năm 2023 anh Đ đã nộp đơn ra Tòa án đề nghị giải quyết ly hôn, nhưng sau đó anh Đ đã rút đơn để vợ chồng về hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn. Anh Đ và chị L có 02 con chung là Đinh Minh Đ1, sinh ngày 15-3-2003 (giới tính: Nam); Đinh Minh T, sinh ngày 20-11-2013 (giới tính: Nam).
5. Tại phiên tòa:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Văn Đ xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn đoàn tụ được nữa vì anh cho rằng anh đã một lần rút đơn giải quyết ly hôn để vợ chồng có cơ hội khắc phục tình cảm nhưng hai bên vẫn không giải quyết được mâu thuẫn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn.
Quan điểm của chị L không đồng ý ly hôn, chị cho rằng anh Đ có quan hệ tình cảm với người khác. Chị mong anh Đ suy nghĩ lại để vợ chồng về chung sống đoàn tụ vì các con, chị sẽ cố gắng khắc phúc những thiếu sót của bản thân tuy nhiên cũng phải có thời gian không thể một sớm một chiều được.
- Về con chung: Chị L và anh Đ thống nhất thỏa thuận, chị L sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đinh Minh T, sinh ngày 20-11-2013 (giới tính: Nam), nhất trí việc anh Đinh Văn Đ cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/ 1 tháng.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Anh Đ không đề nghị Tòa án giải quyết. Quan điểm của chị L là đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng trong cùng một vụ án ly hôn.
- Về án phí cấp dưỡng nuôi con và ly hôn: Anh Đinh Văn Đ tự nguyện nộp toàn bộ. Chị L nhất trí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Đinh Văn Đ có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con chung với chị Vũ Thị Len. Xét thấy, tranh chấp giữa anh Đinh Văn Đ và chị Vũ Thị L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Đinh Văn Đ và chị Vũ Thị L đều có đăng ký thường trú tại số A đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định nên căn cứ Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. .
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Văn Đ và chị Vũ Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định năm 2003 nên là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hòa hợp. Theo anh Đ trình bày, chị L hay ghen tuông thái quá làm ảnh hưởng đến cuộc sống công việc sinh hoạt của anh Đ, vợ chồng liên tục xảy ra xô xát và đã sống ly thân nhiều lần. Còn theo chị L trình bày, anh Đ hay đi chơi, và có tình cảm không trong sáng. Hai bên cũng có đã có thời gian để khắc phục mâu thuẫn, nhưng không đem lại kết quả nên mâu thuẫn vợ chồng ngày thêm căng thẳng trầm trọng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải mâu thuẫn vợ chồng nhưng anh Đ vẫn kiên quyết đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, chị L không nhất trí ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Đinh Văn Đ và chị Vũ Thị L mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa anh Đinh Văn Đ và chị Vũ Thị Len.
[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đinh Minh Đ1, sinh ngày 15-3-2003 (giới tính: Nam); Đinh Minh T, sinh ngày 20-11-2013 (giới tính: Nam). Cháu Đ1 hiện đã trên 18 tuổi nên anh Đ và chị L không đề nghị Tòa án giải quyết việc giao nuôi con chung với cháu Đ1. Hai bên thống nhất quan điểm giao cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung là cháu Đinh Minh T. Anh Đinh Văn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/ 1 tháng (ba triệu đồng/ 1 tháng).
Xét thấy, sự thoả thuận trên của anh Đinh Văn Đ và chị Vũ Thị L về việc giao nuôi con chung là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 công nhận sự thoả thuận về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung của anh chị.
[4] Về tài sản chung và công nợ chung:
Tại bản tự khai và tại phiên họp về kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công kahi chứng cứ và hòa giải, anh Đinh Văn Đ và chị Vũ Thị L đều có quan điểm thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng. Sau khi Tòa án ra Quyết định xét xử, ngày 12-12-2023 chị L mới nộp đơn đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản chung. HĐXX nhận định đây là yêu cầu phản tố của bị đơn, theo quy định tại khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015 thì chị L phải nộp đơn khởi kiện về việc chia tài sản chung của vợ chồng trước thời điểm Tòa án mở phiên họp về kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải do đó tại phiên tòa hôm nay HĐXX không xem xét giải quyết. Chị Vũ Thị L có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung và các nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng bằng một vụ án khác.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, anh Đinh Văn Đ là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con anh Đinh Văn Đ tự nguyện nộp toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Đinh Văn Đ và chị Vũ Thị Len.
- Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
Giao cho chị Vũ Thị L trực tiếp, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Đinh Minh T, sinh ngày 20-11-2013 (giới tính: Nam). Việc cấp dưỡng nuôi con: Anh Đinh Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/ 1 tháng (ba triệu đồng/1 tháng) kể từ tháng 12 năm 2023 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành, tự lập.
Anh Đinh Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Anh Đinh Văn Đ nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Tổng cộng anh Đinh Văn Đ phải nộp 450.000 đồng (bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh Đinh Văn Đ đã nộp tại biên lai số 0001803 ngày 20-10-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định. Anh Đinh Văn Đ còn phải nộp 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng)
- Về quyền kháng cáo: Anh Đinh Văn Đ và chị Vũ Thị L có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì anh Đ và chị L có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Hà |
Quyết định số 558/2023/HNGĐ-ST ngày 22/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn và nuôi con
- Số quyết định: 558/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
