TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Số: 55/2022/QĐST-HNGĐ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— Hà Tĩnh, ngày 23 tháng 6 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH
(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:
Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hà Ngân - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Nữ Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 99/2022/TLST-HNGĐ ngày 20/5/2022 về việc "Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn", theo Quyết định mở phiên họp giải quyết số 56/2022/QĐ-ST ngày 07/6/2022, giữa các đương sự:
- Người yêu cầu: Chị Lê Thị N, sinh ngày: 16/11/1983, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 7, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, đề nghị giải quyết vắng mặt
- Bị đơn: Anh Bùi Thành T, sinh ngày: 16/11/1983, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 7, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Astralia, đề nghị giải quyết vắng mặt
NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo nội dung Đơn yêu cầu giải quyết việc ly hôn của chị Lê Thị N và anh Bùi Thành T cùng các tài liệu có tại hồ sơ, việc Hôn nhân gia đình có nội dung:
Chị Lê Thị N và anh Bùi Thành T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Theo số đăng ký số 47/2010, quyển số 01/2010, ngày 25/10/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống hoà thuận, hạnh phúc tại phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh và có 02 con chung. Năm 2014, anh Bùi Thành T đi lao động tại Australia. Đến năm 2016, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống, không tin tưởng nhau dẫn đến không còn quan tâm đến nhau. Hai vợ chồng ly thân từ năm 2016, đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân của vợ chồng không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Lê Thị N làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho chị Lê Thị N và anh Bùi Thành T ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Bùi Thành S, sinh ngày: 16/3/2014; Bùi Lê Minh Q, sinh ngày: 28/8/2011. Vợ chồng thống nhất giao con chung cho anh Bùi Thành T trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu chị Lê Thị N cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết việc Hôn nhân gia đình, anh Bùi Thành T đã gọi điện trình bày ý kiến liên quan đến nội dung chị Lê Thị N khởi kiện như sau: Về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn đúng như nội dung chị Lê Thị N trình bày trong đơn khởi kiện. Do khoảng cách địa lý xa xôi, không tin tưởng, phát sinh bất đồng quan điểm nên đời sống hôn nhân ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Vì vậy, anh Bùi Thành T yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Về con chung: Vợ chồng thống nhất giao 02 con chung là Bùi Thành S, sinh ngày: 16/3/2014; Bùi Lê Minh Q, sinh ngày: 28/8/2011 cho anh Bùi Thành T nuôi dưỡng, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do công việc, điều kiện đi lại khó khăn, anh Bùi Thành T không về Việt Nam giải quyết ly hôn, không cung cấp được địa chỉ cụ thể tại Australia, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, ủy quyền giao nhận tài liệu cho mẹ đẻ là bà Trần Thị Lợi, địa chỉ: Tổ dân phố 7, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh.
Tại phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận, thống nhất được với nhau và đề nghị Hội đồng giải quyết việc Hôn nhân gia đình: Căn cứ Điều 149, 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 51, 55, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Chấp nhận yêu cầu của các đương sự; công nhận thuận tình ly hôn của chị Lê Thị N và anh Bùi Thành T, về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giao con chung Bùi Thành S, sinh ngày: 16/3/2014 và Bùi Lê Minh Q, sinh ngày: 28/8/2011 cho anh Bùi Thành T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi; các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của chị Lê Thị N và anh Bùi Thành T, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh; Thẩm phán giải quyết việc Hôn nhân gia đình nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tại Công văn số 8781/QLXNC-P5 ngày 04/5/2022 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Bộ Công an thể hiện “Anh Bùi Thành T đã xuất nhập cảnh 07 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 08/9/2014, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước”. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, Điều 122, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29, 37, 39, 464 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
[1.2] Chị Lê Thị N, anh Bùi Thành T đều đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[1.3] Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, quá trình làm việc, anh Bùi Thành T trình bày thống nhất với toàn bộ yêu cầu của chị Lê Thị N, không tranh chấp. Do công việc, anh Tâm không về Việt Nam để giải quyết việc hôn nhân gia đình nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, đồng thời ủy quyền giao, nhận tài liệu cho mẹ đẻ là bà Trần Thị Lợi. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án thực hiện tống đạt văn bản tố tụng cho anh Bùi Thành T thông qua người được ủy quyền và chuyển quan hệ pháp luật từ vụ án “Ly hôn” thành “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”.
[1.4] Chị Lê Thị N có văn bản đề nghị không tiến hành hòa giải. Căn cứ Điều 205, 207, 397 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã ban hành Thông báo số 13/2022/TB-TA ngày 20/5/2022 về việc vụ việc không hòa giải được.
[1.5] Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án Hôn nhân gia đình, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình cho các đương sự là thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
[1.6] Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ và tiến hành xác minh tài liệu chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là tuân thủ quy định tại Điều 93, 94, 95, 96, 97, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
[2.1.1] Hôn nhân giữa anh Bùi Thành T và chị Lê Thị N được xây dựng trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện, không trái đạo đức, thuần phong mỹ tục, đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và tổ chức lễ cưới công khai. Căn cứ quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.
[2.1.2] Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, có 02 con chung. Mâu thuẫn phát sinh khi anh Bùi Thành T đi làm việc tại Australia, vợ chồng không tin tưởng, bất đồng quan điểm, ly thân từ đó đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy thời gian xa cách lâu ngày, tình cảm vợ chồng không được vun đắp, xây dựng nên mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị Lê Thị N và anh Bùi Thành T yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.
[2.1.3] Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).
[2.1.4] Xét thấy, hiện nay, tình cảm vợ chồng giữa chị Lê Thị N và anh Bùi Thành T không còn. Vợ chồng không yêu thương, quan tâm đến nhau, mâu thuẫn trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị Nga, anh Tâm như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận thuận tình ly hôn của chị Lê Thị N và anh Bùi Thành T là đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Về quan hệ con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận nuôi con chung của chị Lê Thị N và anh Bùi Thành T: Giao con chung Bùi Thành S, sinh ngày: 16/3/2014 và Bùi Lê Minh Q, sinh ngày: 28/8/2011 cho anh Bùi Thành T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đương sự không yêu cầu nên miễn xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
[3] Xét thấy, các đương sự đã tự nguyện thỏa thuận toàn bộ nội dung việc Hôn nhân gia đình; sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận người trực tiếp nuôi con chung của các đương sự.
Trong trường hợp phát sinh tranh chấp thì đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
[4] Về lệ phí: Các đương sự phải chịu lệ phí việc Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 146, 147, 361, 362, 367, 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn của chị Lê Thị N, sinh ngày: 16/11/1983, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 7, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh và anh Bùi Thành T, sinh ngày: 16/11/1983, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 7, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang lao động tại Astralia.
2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận nuôi con chung của chị Lê Thị N và anh Bùi Thành T: Giao con chung Bùi Thành S, sinh ngày: 16/3/2014 và Bùi Lê Minh Q, sinh ngày: 28/8/2011 cho anh Bùi Thành T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trừ trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý mới. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đương sự không yêu cầu nên miễn xét
3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
4. Về lệ phí: Áp dụng Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27, 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Chấp nhận sự tự nguyện nộp tiền lệ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng của chị Lê Thị N theo biên lai số 0000202 ngày 20 tháng 5 năm 2022 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.
Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC HNGĐ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Hà Ngân |
Quyết định số 55/2022/QĐST-HNGĐ ngày 23/06/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 55/2022/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2022
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị N, ly hôn Anh Bùi Thành T
