|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – hạnh phúc |
Bản án số: 54/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 6 - 2025
V/v: Ly hôn giữa bà Hạnh và ông Năm
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Lan
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Thắng và ông Đỗ Hồng Tuyên
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khuông- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình ghi biên bản phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy: Ông Vũ Văn Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 19/6/2025, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 15/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐST- HNGĐ ngày 13/5/2025 và quyết định hoãn phiên toà số 32A/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/5/2025 giữa:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1980
CCCD: [...]
Địa chỉ: thôn T, thị trấn D, huyện T, Thái Bình
Bị đơn: Ông Nguyễn Quang N, sinh năm 1975
CCCD: [...]
Địa chỉ: thôn T, thị trấn D, huyện T, Thái Bình
(Bà H và ông N đều có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và ý kiến tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn là bà Lê Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Quang N tự nguyện tìm hiểu, kết hôn với nhau vào ngày 11/01/1999, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là UBND thị trấn D), huyện T, Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng làm ăn, sinh sống tại địa phương. Cuộc sống chung bình thường đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng thường cãi vã nhau nhưng vẫn duy trì cuộc sống chung. Mâu thuẫn căng thẳng từ tháng 6/2024, bà thuê nhà ở riêng sống ly thân với ông N. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng giữa bà và ông N không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho bà ly hôn ông N.
Về việc nuôi dưỡng con chung: Bà và ông N có hai con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/10/1999 và Nguyễn Quang T1, sinh ngày 04/02/2008. Con Nguyễn Thị T đã lập gia đình riêng, bà không yêu cầu về việc nuôi dưỡng. Nay bà đề nghị Toà án giải quyết giao cho bà trực tiếp nuôi con Nguyễn Quang T1, không yêu cầu ông N cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông N có tài sản chung là nhà đất ở tại Tổ dân phố H, thị trấn D, T, Thái Bình nhưng bà không yêu cầu Toà án giải quyết phân chia tài sản chung. Bà và ông N không nợ ai nên không yêu cầu Toà án giải quyết về nợ chung.
Tại biên bản lấy lời khai, ý kiến tại phiên toà sơ thẩm, ông Nguyễn Quang N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà H kết hôn vào ngày 11/01/1999 đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là thị trấn D), huyện T, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn ông và bà H chung sống vui vẻ đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do điều kiện công việc thay đổi, bà H thường xuyên cáu gắt vô cớ và đến tháng 5/ 2024 thì tự ý chuyển ra ở riêng. Ông cũng đã gọi điện, nhắn tin và quá trình hoà giải tại Toà án ông mong muốn bà H quay về đoàn tụ nuôi dạy con nhưng bà H không về. Nay bà H vẫn yêu cầu giải quyết ly hôn ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông nhất trí ly hôn bà H.
Về việc nuôi dưỡng con chung: Ông và bà H có hai con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/10/1999 và Nguyễn Quang T1, sinh ngày 04/02/2008. Con Nguyễn Thị T đã lập gia đình và ở riêng nên ông không yêu cầu về việc nuôi dưỡng. Ông đề nghị Toà án giải quyết giao con Nguyễn Quang T1 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Nhất trí về việc bà H không yêu cầu ông cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông và bà H có nhà đất ở tại Tổ dân phố H, thị trấn D, T, Thái Bình nhưng ông không yêu cầu phân chia tài sản chung. Ông và bà H không nợ ai nên không yêu cầu Toà án giải quyết về nợ.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đều đúng quy định. Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 xử cho bà Lê Thị H ly hôn ông Nguyễn Quang N; Về con chung: Bà H và ông N có hai con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/10/1999 và Nguyễn Quang T1, sinh ngày 04/02/2008. Đề nghị áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết: Con Nguyễn Thị T đã trên 18 tuổi nên không đặt ra trách nhiệm nuôi dưỡng và cấp dưỡng. Giao cho bà H trực tiếp nuôi con Nguyễn Quang T1 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bà H không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Quang N đều không yêu cầu Toà án giải quyết. Bà Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Quang N tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là thị trấn D) huyện T, tỉnh Thái Bình – là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do tính tình không hợp nên phát sinh mâu thuẫn dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc. Từ tháng 5/2024 bà H và ông N ly thân. Nay bà H yêu cầu giải quyết ly hôn, ông N cũng xác định mâu thuẫn giữa ông và bà H đã trầm trọng không có phương án hòa giải và nhất trí ly hôn với bà H. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho bà Lê Thị H ly hôn ông Nguyễn Quang N.
[2.2]. Về việc nuôi dưỡng con chung: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Quang N có hai con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/10/1999 và Nguyễn Quang T1, sinh ngày 04/02/2008. Con Nguyễn Thị T đã lập gia đình và ở riêng nên ông, bà không yêu cầu về việc nuôi dưỡng. Con Nguyễn Quang T1 đang ở cùng bà H và có nguyện vọng ở cùng mẹ. Bà H có đủ điều kiện nuôi con chung; nên áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Quang T1 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bà H không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3]. Về phần chia tài sản chung, nợ chung: Ông N và bà H đều khai có tài sản chung là nhà và đất ở tại Tổ dân phố H, thị trấn D nhưng cả hai đều không yêu cầu phân chia nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này. Ông N và bà H có quyền yêu cầu giải quyết phân chia tài sản chung của vợ chồng bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
[3] Về án phí, quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 147; Điều 160 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí. Bà Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; Bà H và ông N có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 4 Điều 147; Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Lê Thị H ly hôn ông Nguyễn Quang N;
2. Về việc nuôi dưỡng con chung: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Quang N có hai con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/10/1999 và Nguyễn Quang T1, sinh ngày 04/02/2008. Con Nguyễn Thị T đã trên 18 tuổi không đặt ra việc nuôi dưỡng và cấp dưỡng. Giao con Nguyễn Quang T1 cho bà Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng Bà H không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0004458 ngày 20/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, bà Lê Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Quang N có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Hương Lan |
Quyết định số 54/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn
- Số quyết định: 54/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị H ly hôn ông Nguyễn Quang N
