|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 522/2024/QĐ-PT |
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 6 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trịnh Thị Ánh
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu Hương
Bà Trần Thị Thủy
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 85/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào Điều 48, điểm c khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng mua bán nhà và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1967
Địa chỉ: Số B Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn theo Giấy ủy quyền lập ngày 23/9/2023 tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Quyết T và/hoặc bà Vũ Thị Bích H và/hoặc ông Lê Huỳnh Thiên Đ1, cùng địa chỉ: Số B Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Phạm Quốc S, sinh năm 1967 (chết năm 2016).
Nơi cư trú cuối cùng: Số F T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số B Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền lập ngày 23/9/2023 tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Quyết T và/hoặc bà Vũ Thị Bích H và/hoặc ông Lê Huỳnh Thiên Đ1, cùng địa chỉ: Số B Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Bà Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Số D Hồ H, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trụ sở: Số 25/5 Hoàng Việt, Phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh C – Trưởng phòng.
Tại Đơn kháng cáo ngày 21/3/2024, nguyên đơn bà Trần Thị Đ kháng cáo toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 85/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét không toàn diện, đáng giá không đầy đủ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, áp dụng sai quy định của pháp luật làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trong vụ án.
XÉT THẤY:
[1] Ngày 19/3/2024, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 85/2024/QĐST-DS, về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 56/2024/TLST-DS ngày 29/01/2024. Ngày 20/3/2024, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh giao quyết định này cho nguyên đơn bà Trần Thị Đ (có ông Lê Huỳnh Thiên Đ1 đại diện nhận).
Ngày 21/3/2024, bà Trần Thị Đ (nguyên đơn) nộp đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hợp lệ nên chấp nhận.
Trong Đơn kháng cáo, bà Trần Thị Đ trình bày: Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã xem xét không toàn diện, đánh giá không đầy đủ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; áp dụng sai quy định của pháp luật làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trong vụ án.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Đ (nguyên đơn), Hội đồng phúc thẩm nhận thấy:
[2.1] Ngày 10/9/2023, nguyên đơn bà Trần Thị Đ có Đơn khởi kiện bị đơn ông Phạm Quốc S (sinh năm 1967), về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng mua bán nhà và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”. Theo quy định tại khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì ông Phạm Quốc S là bị đơn trong vụ án dân sự.
Căn cứ Trích lục khai tử số 202/TLKT-BS ngày 11/4/2016 của Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, thì ông Phạm Quốc S đã chết ngày 05/4/2016, chết trước thời điểm bà Trần Thị Đ (nguyên đơn) nộp đơn khởi kiện.
Như vậy, có căn cứ xác định ngay từ khi bà Trần Thị Đ nộp đơn khởi kiện, thì ông Phạm Quốc S đã không phải là đương sự trong vụ án dân sự có năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự, quy định tại Điều 68 và Điều 69 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặt khác, khi biết được thông tin ông Phạm Quốc S đã chết, nguyên đơn cũng không thay đổi, bổ sung đơn khởi kiện. Vì vậy, việc nguyên đơn khởi kiện bị đơn ông Phạm Quốc S (đã chết trước ngày nộp đơn khởi kiện), là không phù hợp quy định của pháp luật.
[2.2] Tại Đơn khởi kiện đề ngày 10/9/2023 (Tòa án nhận đơn ngày 20/9/2023), nguyên đơn bà Trần Thị Đ khởi kiện ông Phạm Quốc S, yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau đây:
- Tuyên vô hiệu Hợp đồng hạn mức tín dụng ngày 17/10/2007 giữa ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị Đ với Doanh nghiệp tư nhân K (có ông Phạm Quốc S là Giám đốc đại diện).
- Tuyên vô hiệu Hợp đồng mua bán nhà số công chứng 004079, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/02/2009 giữa ông Phạm Quốc S và ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị Đ. Buộc ông Phạm Quốc S hoàn trả lại nhà đất số F Hồ H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho nguyên đơn.
- Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu đất ở số H T B do Ủy ban nhân dân quận B cấp cho ông Phạm Quốc S ngày 03/7/2009.
- Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 218523, số vào sổ cấp GCN: CN 18041 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B cấp ngày 20/9/2023 cho bà Nguyễn Ngọc N.
[2.3] Trước đây, ông Phạm Quốc S đã khởi kiện ông Nguyễn Văn M và bà Trần Thị Đ tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ giao nhà và tranh chấp hợp đồng mua bán căn nhà số F đường H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng mua bán nhà được Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận số 004079, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/02/2009).
Quá trình Tòa án nhân dân các cấp giải quyết vụ án này, bà Trần Thị Đ khai nhận: “Bà xác nhận, ngày 17/10/2007 vợ chồng bà có thế chấp giấy tờ căn nhà số F đường H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Phạm Quốc S để vay số tiền 700.000.000 đồng. Ông S có giải chấp Ngân hàng cho bà 500.000.000 đồng, số còn lại ông S giao cho bà nhận. Thời hạn vay là 36 tháng với lãi suất 1,1%/tháng, nhưng do vợ chồng bà không có khả năng trả tiền vốn và lãi. Ngày 06/02/2009 vợ chồng bà có ký hợp đồng bán căn nhà số F đường H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Phạm Quốc S với giá 900.000.000 đồng, số tiền nợ 700.000.000 đồng và tiền lãi đưa vào tiền mua nhà, ông S có đưa thêm khoảng 30.000.000 đồng là đủ 900.000.000 đồng. Hợp đồng mua bán nhà được Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận số 004079, quyền số: 1/TP/CC- SCC/HĐGD ngày 06/02/2009. Ngày 03/07/2009 ông S đã được Ủy ban nhân dân quận B cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở...”.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2014/DS-ST ngày 25/02/2014 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án dân sự phúc thẩm số 995/2014/DS-ST ngày 14/8/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
“Chấp nhận yêu cầu thực hiện nghĩa vụ giao nhà theo hợp đồng mua bán nhà lập ngày 06/02/2009 của ông Phạm Quốc S, bà Lai Ngọc T1.
Bác yêu cầu của bà Trần Thị Đ không đồng ý giao nhà và xin trả lại số tiền 1.200.000.000 đồng cho ông S vào cuối năm 2014.
Buộc ông Nguyễn Văn M, bà Trần Thị Đ và những người đang cư trú tại căn nhà số F đường H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm giao nhà đất số F đường H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Phạm Quốc S ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
.....”.
Căn cứ Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 08/QĐ-CCTHA ngày 03/10/2014, Quyết định cưỡng chế giao quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 31/QĐ-CCTHADS ngày 05/9/2019 và Biên bản về việc giao nhà theo bản án lập ngày 28/9/2023 cùng của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, thì Bản án dân sự phúc thẩm số 995/2014/DS-ST ngày 14/8/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã được thi hành xong.
Nay, bà Trần Thị Đ khởi kiện ông Phạm Quốc S để tranh chấp đối với việc vay số tiền 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng theo Hợp đồng hạn mức tín dụng ngày 17/10/2007, Hợp đồng mua bán nhà được công chứng số 004079, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/02/2009 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh; Yêu cầu hủy các quyết định cá biệt phát sinh sau khi hai bên ký hợp đồng mua bán nhà ngày 06/02/2009.
Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 85/2023/QĐST-DS ngày 19/3/2024, do: Tranh chấp liên quan đến khoản vay 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng và hợp đồng mua bán căn nhà số F đường H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng công chứng số 004079, quyền số 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/02/2009 tại Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh) giữa hai bên đương sự đã được giải quyết bằng Bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc Quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Đ (nguyên đơn).
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị Đ phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; được trừ hết vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà bà Trần Thị Đ đã nộp (có ông Lê Huỳnh Thiên Đ1 nộp thay). Bà Trần Thị Đ đã nộp đủ.
[4] Tại phiên họp, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ông Phạm Duy Tuấn – Kiểm sát viên, phát biểu và đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Đ, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 85/2024/QĐST-DS ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, là có căn cứ nên chấp nhận.
Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
QUYẾT ĐỊNH:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Đ (nguyên đơn).
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 85/2024/QĐST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Án phí dân sự phúc thẩm.
Bà Trần Thị Đ phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ hết vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng mà bà Trần Thị Đ đã nộp (có ông Lê Huỳnh Thiên Đ1 nộp thay) theo Biên lai thu số 0012255 ngày 25/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Trần Thị Đ đã nộp đủ.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trịnh Thị Ánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM CÁC THẨM PHÁN Vũ Thị Thu H1 - Trần Thị T2 |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trịnh Thị Á |
Quyết định số 522/2024/QĐ-PT ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng mua bán nhà và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số quyết định: 522/2024/QĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng mua bán nhà và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
