|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 51/2024/HNGĐ-ST
Ngày 22/4/2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Đăng Mạnh.
Ông Giáp Văn Phẩm.
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
Đại diện Viện kiểm sát: Ông Nguyễn Văn Vĩnh - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn.
Ngày 22/4/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 471/2023/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 21/2024/QÐST-DS ngày 09/4/2024, giữa:
Nguyên đơn: Anh Dương Văn C, sinh năm 1982 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai anh Dương Văn C trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn với nhau vào ngày 16/02/2001, trước khi cưới có được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong chị T về làm dâu ngay nhà anh, vợ chồng anh chị chung sống tại thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc.Đến năm 2019, thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã chửi nhau, không cùng nhau phát triển kinh tế. Gia đình họ hàng hai bên cũng có hòa giải cho vợ chồng nhưng không thành. Anh và chị T đã ly thân từ năm 2019 đến nay không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay anh xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị T có 02 con chung là Dương Văn K, sinh ngày 08/5/2002 và Dương Ngọc Á, sinh ngày 24/01/2006. Nay ly hôn anh có nguyện vọng như sau: Do cháu Dương Văn K đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên anh không đề nghị Toà án giải quyết; Còn đối với cháu Dương Ngọc Á anh có nguyện vọng để chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con: Anh và chị Dương Thị T1 tự thoả thuận, anh không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về các khoản nợ chung: Anh và chị Nguyễn Thị T không có nợ chung nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 05/01/2024, bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Dương Văn Chung kết h với nhau vào ngày 16/02/2001, trước khi cưới có được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong chị về làm dâu ngay nhà anh C, vợ chồng anh chị chung sống tại thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc.
Đến năm 2018, thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh C có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Gia đình họ hàng hai bên cũng có hòa giải cho vợ chồng nhưng không thành. Chị và anh C đã ly thân từ năm 2018 đến nay không còn liên lạc gì với nhau nữa. Nay anh C khởi kiện ly hôn chị, chị xác định vợ chồng có mâu thuẫn, vợ chồng cũng đã ly thân được một thời gian dài, chị cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Chị và anh Dương Văn C có 02 con chung là Dương Văn K, sinh ngày 08/5/2002 và Dương Ngọc Á, sinh ngày 24/01/2006. Nay ly hôn chị có nguyện vọng như sau: Do cháu Dương Văn K đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên anh không đề nghị Toà án giải quyết; Còn đối với cháu Dương Ngọc Á chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung. Cấp dưỡng nuôi con: Chị không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về các khoản nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại biên bản xác minh ngày 12/12/2023, ông Nguyễn Văn N Bí thư chi bộ thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang cung cấp: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1981 hiện vẫn sinh sống cùng với các con ở thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đối với tình trạng hôn nhân giữa anh C, chị T địa phương nắm được hai vợ chồng đã ly thân được một thời gian dài từ năm 2018 đến nay, còn cụ thể mẫu thế nào địa phương không rõ.
Tại biên bản xác minh ngày 12/12/2023, ông Đinh Quang Đ phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M cung cấp: Hiện chị Nguyễn Thị T vẫn sinh sống tại thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đối với tình trạng hôn nhân giữa anh C, chị T địa phương nắm được hai vợ chồng đã ly thân được một thời gian dài từ năm 2018 đến nay, còn cụ thể mẫu thế nào địa phương không rõ vì không báo chính quyền địa phương.
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Dương Văn C vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và các đương sự: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Văn C: Cho anh Dương Văn C được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
Về con chung: Do các con chung đều đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh Dương Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh Dương Văn C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0005859 ngày 01 tháng 12 năm 2023.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Dương Văn C khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung với chị Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị T hiện đang có hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Do đó đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
-
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Dương Văn C vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Dương Văn C và chị Nguyễn Thị T theo quy định tại Điều 227, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
-
Xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Văn C và chị Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, xã L, tỉnh Bắc Giang được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/02/2001 phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Theo trình bày của anh Dương Văn C vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, hiện tại vợ chồng không còn tình cảm với nhau. Chị Nguyễn Thị T cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh Dương Văn C có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay, chị T đồng ý ly hôn với anh C. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian sống chung vợ chồng anh C, chị T không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ vợ chồng không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến vợ chồng sống ly thân, việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần cho anh Dương Văn C được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
-
Về con chung: Anh Dương Văn C và chị Nguyễn Thị T đều xác định vợ chồng có 02 con chung là Dương Văn K, sinh ngày 08/5/2002 và Dương Ngọc Á, sinh ngày 24/01/2006, hiện cháu Dương Văn K đã đủ 18 tuổi, Dương Ngọc Á khi anh C làm đơn khơn khởi kiện cháu Á chưa đủ 18 tuổi, tuy nhiên đến ngày xét xử 22/04/2024 cháu Á đã đủ 18 tuổi, do cháu K và cháu Á đều đã trưởng thành đủ 18 tuổi, không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
-
Về tài sản chung, công nợ chung: Do anh Dương Văn C và chị Nguyễn Thị T không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
-
Về án phí : Căn cứ Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, anh Dương Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh Dương Văn C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số: 0005859 ngày 01 tháng 12 năm 2023.
-
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Văn C: Cho anh Dương Văn C được ly hôn hôn với chị Nguyễn Thị T.
-
Về án phí: Anh Dương Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí anh Dương Văn C đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số: 0005859 ngày 01 tháng 12 năm 20234.
-
Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thu Hà |
Quyết định số 51/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số quyết định: 51/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Văn C và Nguyễn Thị T Ly hôn
