|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 5073/2024/QĐST-HNGĐ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Thành phố Thủ Đức, ngày 30 tháng 10 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - TP. HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Điều 212 và Điều 213, Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 55, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 2079/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- - Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1985
- - Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990
- Cùng địa chỉ: I B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc và căn cứ lời khai của đương sự trong quá trình tố tụng, Tòa án nhận định:
[1] Ông Nguyễn Văn N và Bà Nguyễn Thị H chung sống với nhau từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03, quyển số 01/2012 ngày 12 tháng 01 năm 2012. Như vậy, hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H là hôn nhân hợp pháp.
Trong thời gian chung sống vợ chồng thực tế có phát sinh mâu thuẫn, do không phù hợp về tính cách, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có sự quan tâm chia sẻ với nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Vợ chồng ông bà đã sống ly thân từ cuối năm 2019. Đến nay, ông N và bà H xác định không thể chung sống với nhau được nữa. Xét tình trạng mâu thuẫn giữa ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H đã trầm trọng, cuộc sống chung thực sự không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ông N và bà H yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn cho ông bà là có cơ sở.
[2] Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 14/11/2013 và Nguyễn Ngọc N1, sinh ngày 14/02/2015. Bà H và ông N đã thỏa thuận giao 02 con Nguyễn Ngọc H1 và Nguyễn Ngọc N1 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông N cấp dưỡng nuôi 02 con hàng tháng, mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/1 con/1 tháng, cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
[3] Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Không có.
[5] Ngày 22 tháng 10 năm 2024, Tòa án đã lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành và ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, con chung và tài sản chung.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành và ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H thuận tình ly hôn.
Giấy chứng nhận kết hôn số 03, quyển số 01/2012 ngày 12 tháng 01 năm 2012 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cấp cho ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H1, sinh ngày 14/11/2013 và Nguyễn Ngọc N1, sinh ngày 14/02/2015.
Giao 02 con chung tên Nguyễn Ngọc H1 và Nguyễn Ngọc N1 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con hàng tháng, mức cấp dưỡng là 3.000.000 đồng/1 con/1 tháng, kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con.
Trường hợp ông Nguyễn Văn N không tự nguyện thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con thì bà Nguyễn Thị H có quyền yêu cầu Thi hành án. Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông N chưa trả hết tiền cấp dưỡng thì còn phải trả thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm (mười phần trăm một năm) tương ứng với thời gian chậm trả.
- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
2. Về lệ phí hôn nhân và gia đình: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mỗi người phải nộp 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) và được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí mà ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0043411 ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông N và bà H đã nộp đủ lệ phí.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Hồ Thị Thu Hiền |
Quyết định số 5073/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự
- Số quyết định: 5073/2024/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thuận tình ly hôn
