Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 50/2024/HSST

Ngày: 21 – 11 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hậu Thi
  2. Ông Nguyễn Trọng Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoành, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2004, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/HSST ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/XXHSST – HS, ngày 08/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên bị cáo: Trần Bá S; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không.

Sinh ngày: 13 tháng 9 năm 1991, tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký HKTT và chổ ở: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá:Lớp 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ, đảng phái: Quần chúng; con ông: Trần Bá L, sinh năm 1966; con bà: Trần Thị T, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 13/02/2023, Trần Bá S bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 07 tháng tù, theo Bản án số 07/2024/HSST, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2023, chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội nói trên; tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn đã áp dụng: Bị cáo Trần Bá S bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 19/6/2024 đến ngày 28/6/2024 chuyển tạm giam, ngày 15/9/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh về tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa

Bị hại:

Bà Nguyễn Thị D – sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị A – sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt)

Ông Trần Văn T1 – sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt)

Ông Cao Văn T2 – sinh năm 1990; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt)

Ông Mai Văn H – sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 18/06/2024, Trần Bá S đi xe ô tô Buýt đi từ thành phố H vào ngã ba C V, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh chơi, sau đó ngủ lại ở điểm dừng xe ô tô buýt tại ngã ba C V, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 08 giờ 00 phút ngày 19/06/2024, S tiếp tục đi xe ô tô Buýt để về nhà, khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, khi xe ô tô Buýt đi đến địa phận xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, do không có tiền trả tiền xe, nên nhân viên bán vé xe Buýt yêu cầu S xuống xe, không cho đi. Sau khi xuống xe S đi bộ dọc theo đường Q hướng ra B, khi đi bộ đến trước quán ăn sáng “M”, của chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1964, ở thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, mặc dù không có tiền trong người nhưng S vẫn vào quán gọi một tô cháo ra để ăn. Trong lúc S đang ngồi ăn cháo và nhìn ra ngoài đường phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, đen, biển kiểm soát: 38K-600.12 của chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1967, ở thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh dựng trước cửa quán để vào ăn sáng, chìa khóa cắm ở ổ khóa điện, nên S nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô làm phương tiện đi về nhà, S quan sát thấy không có người phía ngoài, nên đi bộ ra ngồi lên xe mô tô biển kiểm soát 38K1-600.12, dùng tay mở khóa điện, nổ máy điều khiển xe đi theo đường Q hướng ra B để về nhà thì chị Nguyễn Thị A1, sinh năm 1993, ở cùng thôn chị D đến quán để ăn sáng phát hiện S lấy trộm xe mô tô của chị D đi, nên nói với chị D. Chị D đi ra phát hiện bị mất trộm xe mô tô nên hô hoán lên, sau đó chị D cùng với người dân đuổi theo đến địa phận xã K, huyện K giữ S lại và gọi Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Công an huyện K đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Bá S.

Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, đen biển kiểm soát: 38K1 - 600.12, sản xuất vào năm 2021 đăng ký lần đầu ngày 03/11/2021 mà Trần Bá S trộm cắp là của chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1967, ở thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện K thì trị giá chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 38K1 - 600.12 của chị Nguyễn Thị D tại thời điểm Trần Bá S chiếm đoạt là 9.800.000 đồng (Chín triệu tám trăm nghìn đồng)

Vật chứng thu giữ, xử lý: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ gồm: 01 (một) chiếc xe máy Wave màu xanh đên BKS 38K1 – 600.12, đã qua sử dụng, đã trả lại cho chủ sở hữu.

01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 số IMEI 350290071324128, máy đã qua sử dụng, thu của Trần Bá S. Hiện nay đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.

Tại bản Cáo trạng số 56/CT- VKSKA ngày 31 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Trần Bá S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s, điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Bá S từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024 đến ngày 15/9/2024

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Trả lại cho Trần Bá S 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 số IMEI 350290071324128, máy đã qua sử dụng.

Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo: Xử buộc Trần Bá S phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người làm chứng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 19/6/2024, tại quán ăn sáng “M” của chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1964, ở thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Trần Bá S, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1967, trú tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, đã lén lút, chiếm đoạt một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, đen biển kiểm soát 38K1- 600.12 trị giá 9.800.000 đồng (Chín triệu tám trăm nghìn đồng) thì bị phát hiện bắt quả tang.

Trong quá trình điều tra bị cáo Trần Bá S xuất trình bệnh án điều trị tâm thần vào năm 2020 tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh H, nên ngày 22/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, ra Quyết định trưng cầu giám định số 672/QĐ-CSĐT gửi đến Viện pháp y tâm thần B miền trung để giám định về tâm thần đối với Trần Bá S. Theo kết luận giám định số 39/KLGĐ, ngày 22/10/2024, của Phân viện pháp y tâm thần Bắc miền trung thuộc V kết luận: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, bị can Trần Bá S bị bệnh: Các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng các chất gây ảo giác, với trạng thái loạn thần di chứng và khởi phát muộn, thể Rối loạn nhân cách hoặc hành vi. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD10), có mã bệnh là: F16.71. Tại các thời điểm đã nêu trên, bị can Trần Bá S hạn chế khả năng nhận thức và hành vi.

Hành vi của Trần Bá S đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm Cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, chỉ có một mình Trần Bá S thực hiện hành vi phạm tội, không có đồng phạm.

[3]. Tích chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Đối với Trần Bá S vào ngày 13/02/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 07 tháng tù, theo Bản án số 07/2024/HSST, về tội “Trộm cắp tài sản”, mặc dù đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/12/2023, chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội, phạm tội lần này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước, làm mất trật tự, trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Bị cáo Trần Bá S được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; người phạm tội thành khẩn khai báo; bị hai đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo quy định tại điểm s, điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình Sự.

Cần áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, nhưng dù xem xét đến đâu thì cũng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy đình tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ: 01 (một) chiếc xe máy Wave màu xanh đên BKS 38K1 – 600.12, đã qua sử dụng, đã trả lại cho chủ sở hữu, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Hiện còn lại: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 số IMEI 350290071324128, máy đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc điện thoại nói trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, vì vậy cần trả lại cho Trần Bá S theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị mất trộm, bà Nguyễn Thị D có đơn không yêu cầu bị cáo Trần Bá S bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 173; điểm s, điểm q khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;

Tuyên bố bị cáo: Trần Bá S phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt Trần Bá S 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/6/2024 đến ngày 15/9/2024

Về vật chứng vụ án: Trả lại cho Trần Bá S 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 số IMEI 350290071324128, máy đã qua sử dụng.

Về án phí: Xử buộc Trần Bá S phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng GĐKT;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Phòng PC10;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Trại tạm giam;
  • - CA huyện Kỳ Anh;
  • - VKSND huyện Kỳ Anh;
  • - THA dân sự;
  • - THA hình sự;
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 50/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số quyết định: 50/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Bá S phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger