TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC TỈNH HÀ TĨNH Bản án số: 48/2024/HS-ST Ngày: 28-11-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Nhạ, ông Võ Quốc Linh.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bính – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Phương Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 42/2024/TLST- HS ngày 07/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HS ngày 18/11/2024 đối với các bị cáo:
1. Bùi Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/6/1998; Nơi sinh: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Phụ xe khách; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Bùi Văn H và bà Mai Thị T1; Có vợ: Đặng Thị Thu H1 và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 13/02/2023 bị Công an xã H, huyện L xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc trái phép” (đã nộp tiền phạt ngày 23/3/2023); Bùi Văn T bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
2. Phan Thị Thúy H2; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 17/7/1998; Nơi sinh: Xã B, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phan H4 và bà Phan Thị X; Chồng con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 10/10/2023 bị Ủy ban nhân dân xã T, thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng (chấp hành xong ngày 10/01/2024); Nhân thân: Ngày 10/7/2024, bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H khởi tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. VKSND thành phố Hà Tĩnh đã truy tố Phan Thị Thúy H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự tại bản cáo trạng số 62/CT-VKS-TPHT ngày 11/11/2024. Phan Thị Thúy H2 bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Xuân H3; Nghề nghiệp: Phụ xe; Sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
- + Anh Nguyễn Công Q; Sinh năm 2001; Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.
- + Ông Phan H4; Sinh năm 1974; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
- + Chị Võ Thị T2; Sinh năm 1985; Nghề nghiệp: Kinh doanh nhà nghỉ; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Võ Huy S; Sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.
- + Chị Võ Thị T3; Sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ 00 phút ngày 17/8/2024, Bùi Văn T liên lạc với Phan Thị Thúy H2 để hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá và yêu cầu H2 đưa ma túy đến giao tại nhà nghỉ T4. Sau đó T rủ Nguyễn Xuân H3 và Nguyễn Công Q đến để cùng sử dụng ma túy, hứa sẽ trả tiền taxi cho H3 và Q. T mang theo 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, đến nhà nghỉ T4, thuê phòng nghỉ số 305, gửi vị trí định vị nhà nghỉ T4 CZ cho Q và H3. Khoảng 05 giờ 40 phút cùng ngày, H2 đến nhà nghỉ T4. T xuống trả tiền xe taxi và bảo H2 lên phòng 305 chờ mình. Vài phút sau, H3 và Q đến, T ra trả tiền xe taxi và nói với H3 và Q vào thuê một phòng khác. H3 và Q vào gặp nhân viên lễ tân thuê phòng 306. Khi lên phòng 305, H2 đưa cho T 01 gói băng dán màu đen quấn chặt, bên trong có hai gói ni lông màu trắng đều chứa ma túy đá. T đưa cho H2 2.000.000 đồng để trả 500.000 đồng tiền mua ma túy và cho H2 1.500.000 đồng để thuê taxi chiều về. Tiếp đó, T mở gói nhỏ để sử dụng, gói còn lại cất vào bao thuốc lá Thăng L. Một lúc sau, T nói với H2 phòng bên cạnh có bạn nên T cầm theo bộ dụng cụ và ma túy sang phòng 306 còn H2 nằm nghỉ tại phòng 305. Khi sang đến phòng 306, T rủ H3 và Q sử dụng ma túy cùng mình, tuy nhiên chỉ có H3 sử dụng ma tuý cùng T còn Q thì không do Q chỉ dùng ma túy hồng phiến chứ không dùng ma tuý đá. Khoảng 30 phút sau, T lại mang bộ dụng cụ và ma túy về phòng 305 đặt ở bàn rồi lên giường nằm nghỉ cùng H2 và chơi điện thoại. Đến khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày, H2 ra về. T nằm chơi tại phòng 305 thêm một lúc rồi sau đó mang toàn bộ ma túy cùng bộ dụng cụ sử dụng qua phòng 306. T tiếp tục rủ H3 và Q sử dụng ma tuý với mình, tuy nhiên chỉ có H3 sử dụng còn Q thì không. Cả ba đối tượng nằm chơi điện thoại trên giường trong phòng nghỉ. T và H3 vừa chơi điện thoại vừa sử dụng ma túy. Đến khoảng 9 giờ cùng ngày, khi thấy số ma túy trong cóng đã hết, Bùi Văn T lấy gói ma túy còn lại trong vỏ bao thuốc lá Thăng L ra để cho vào cóng tiếp tục sử dụng thì vừa lúc này, tổ công tác của Công an huyện C tiến hành kiểm tra phòng nghỉ. Do sợ bị phát hiện nên Bùi Văn T đã ngay lập tức cầm bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và số ma tuý còn lại chạy vào vứt trong bồn cầu nhà vệ sinh trong phòng nghỉ để tẩu tán tang vật nhưng bị lực lượng Công an huyện C phát hiện, ngăn chặn kịp thời. Tổ công tác đã kiểm tra, thu giữ tang vật và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Văn T. Bùi Văn T thừa nhận số ma tuý bị thu giữ là của T mua từ Phan Thị Thúy H2 và rủ H3, Q đến cùng sử dụng nhưng chỉ có H3 sử dụng. Nguyễn Xuân H3 thừa nhận hành vi sử dụng ma tuý đá cùng với Bùi Văn T. Nguyễn Công Q trình bày thấy H3 và T cùng sử dụng ma tuý đá còn bản thân không sử dụng.
Tại phòng 306, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thu giữ:
- - 01 túi nilon màu trắng, kích thước 1,5x2cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (theo trình bày của T là ma tuý đá mua từ Phan Thị Thúy H2).
- - 01 túi nilon màu trắng, dính nước, kích thước 1,5x2cm, một góc bị cắt chéo;
- - 01 vỏ bao thuốc lá “Thăng Long”, nắp vỏ bao đã xé bỏ;
- - 01 bật lửa khò màu trắng dán nhãn “Hoa Việt”, đã qua sử dụng;
- - 03 bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng;
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chén sứ màu trắng được gắn với phần đầu chai nựa có nắp chai nhựa màu đỏ và 01 ống hút dài khoảng 20cm, trên nắp được đục 01 lỗ gắn với ống thủy tinh bị vỡ một phần đầu phễu;
- - 01 ống thủy tinh màu trắng phần đầu phễu đã bị vỡ, được uốn cong phần giữa;
- - 01 ống hút nhựa màu đỏ dài 3,5 cm, một đầu được cắt vát nhọn;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen, bên trong gắn thẻ sim 1 số 0899462250, sim 2 số 0988462250, đã qua sử dụng;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh, mặt kính sau bị nứt, bên trong gắn thẻ sim số 0782702728, đã qua sử dụng;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, bên trong gắn thẻ sim số 0336790567, đã qua sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành khám xét khẩn cấp phòng nghỉ số 305 nhà nghỉ T4 và chỗ ở của Phan Thị Thúy H2. Tại phòng nghỉ số 305 không thu giữ được gì.
Tại chỗ ở của Phan Thị Thúy H2 (nhà của ông Phan Văn H4), thu giữ:
- - 04 túi nilon màu trắng, kích thước 1,5x2cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (H2 khai nhận là ma tuý đá mua của một người đàn ông lái xe ôm tại khu vực ngã ba vòng xuyến T).
- - 01 vỏ hộp nhựa đựng thuốc, bên ngoài có chữ “SÂM NHUNG BỔ THẬN”.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, bên trong gắn thẻ sim số 0899200746, đã qua sử dụng.
Tổ công tác tiến hành kiểm tra, xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với Bùi Văn T, Nguyễn Xuân H3, Nguyễn Công Q, Phan Thị Thúy H2. Kết quả xác định cả 04 đối tượng đều dương tính với ma túy Methamphetamine
Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả lại điện thoại Iphone 12 bên trong gắn thẻ sim 0782702728 cho Nguyễn Xuân H3; trả lại điện thoại Iphone 11 bên trong gắn thẻ sim 0336790567 cho Nguyễn Công Q.
Bản kết luận giám định số 1060/KL-KTHS ngày 23/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh H xác định:
- - Chất tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi ni lông màu trắng, kích thước (1,5x2)cm, bên ngoài túi ni lông được quấn băng dán màu đen (thu giữ khi bắt quả tang hành vi phạm tội của Bùi Văn T) là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1707 gam.
- - Chất tinh thể màu trắng chứa trong 04 túi ni lông màu trắng, đều có kích thước (1,5x2)cm, bên ngoài túi ni lông quấn bằng băng dán màu đen (thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Thị Thúy H2) là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,6551 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT 247 Phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ.
Ngày 30/10/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C ban hành Bản kết luận điều tra số 50/KLĐT đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc truy tố Bùi Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự, truy tố Phan Thị Thúy H2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Ngày 15/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc truy tố Bùi Văn T và Phan Thị Thúy H2 về tội danh và điều khoản như Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C đề nghị tại Cáo trạng số 47/CT-VKS-CL.
Tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi như Cáo trạng truy tố. Bị cáo H2 trình bày do bản thân không có nghề nghiệp ổn định nên mua ma tuý từ người đàn ông không quen biết để bán lại kiếm lời. Bị cáo Bùi Văn T và người liên quan Nguyễn Xuân H3 thống nhất thừa nhận chỉ có T và H3 sử dụng ma tuý, H2 và Q không sử dụng ma tuý tại nhà nghỉ.
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự:
- + Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2024.
- + Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; các điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 32; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thị Thúy H2 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2024.
- Việc xử lý vật chứng, tài sản: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ các công cụ, phương tiện sử dụng vào việc sử dụng ma tuý và ma tuý; tịch thu sung quỹ điện thoại của các bị cáo; truy thu từ bị cáo Phan Thị Thúy H2 500.000 đồng.
- Án phí: Đề nghị buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Phan Thị Thúy H2.
Các bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
Bị cáo Phan Thị Thúy H2 thuộc diện hộ nghèo nhưng từ chối trợ giúp pháp lý nên cơ quan tiến hành tố tụng không liên hệ trung tâm trợ giúp pháp lý để cử người bào chữa cho bị cáo là phù hợp.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
[2.1] Xét hành vi của các bị cáo:
- Về tội danh:
- + Bùi Văn T Để để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma tuý đã liên hệ mua M, thuê phòng khách sạn, chuẩn bị bộ D để sử dụng ma túy và sau đó rủ Nguyễn Xuân H3, Nguyễn Công Q đến để cùng sử dụng ma túy. Sau đó, Bùi Văn T, Nguyễn Xuân H3 đã cùng nhau sử dụng ma tuý (T dùng bật lửa khò đốt ma túy và đưa dụng cụ sử dụng ma túy cho Nguyễn Xuân H3 sử dụng cùng với mình), Nguyễn Công Q tuy có mặt tại phòng nghỉ nhưng không sử dụng chất ma túy do T chuẩn bị. Hành vi của T đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Đối với 0,1707 gam ma túy Methamphetamine của T bị tổ công tác bắt quả tang là số ma tuý chưa kịp sử dụng hết nên Bùi Văn T không bị xử lý về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp.
- + Phan Thị Thúy H2 để thu lợi bất chính đã mua ma túy từ một người không quen biết về bán lại cho người sử dụng ma tuý. Trong ngày 17/8/2024, H2 đã bán cho Bùi Văn T 500.000 đồng ma túy Methamphetamine trong đó cơ quan chức năng thu giữ 0,1707 gam Methamphetamine tại phòng nghỉ của T. Ngoài ra, còn thu giữ 0,6551gam Methamphetamine tại chỗ ở của H2 chưa kịp bán. Tổng khối lượng ma tuý Methamphetamine mà Phan Thị Thúy H2 đã thực hiện hành vi mua bán trái phép là 0,8258 gam. Hành vi của Phan Thị Thúy H2 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- + Bùi Văn T thành khẩn khai báo, có cha ruột tham gia cách mạng, được hưởng chế độ trợ cấp một lần đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Phan Thị Thúy H2 thành khẩn khai báo và tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội đang có thai nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Ma túy là chất gây nghiện, có tính chất kích thích thần kinh, có tác hại lớn đến sức khỏe con người và còn là nguyên nhân gây phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Việc mua bán và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an ninh xã hội, làm mất trị an trên địa bàn nên cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội. Do đó, xử phạt các bị cáo mức án như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
[2.2] Xét hành vi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Nguyễn Xuân H3 là người sử dụng ma túy cùng với Bùi Văn T, tuy nhiên chỉ là người thụ hưởng, không có vai trò đồng phạm, giúp sức cho T nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là phù hợp.
- - Nguyễn Công Q là người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm và có kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma tuý Methamphetamine. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của Q, T, H3, nội dung các tin nhắn trao đổi cho thấy Q không sử dụng ma tuý với T và H3 vào ngày 17/8/2024 mà sử dụng ma túy hồng phiến tại huyện Y, tỉnh Nghệ An vào tối ngày 16/8/2024. Q cũng không có vai trò đồng phạm, giúp sức gì cho T nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” là phù hợp.
- Ngoài ra, Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Xuân H3 về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 17/8/2024, đối với Nguyễn Công Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 16/8/2024 là đúng quy định.
- - Võ Thị T2 là người quản lý của nhà nghỉ T4 CZ nhưng không biết việc các bị cáo đưa ma tuý đến nhà nghỉ do mình quản lý để mua bán, sử dụng nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.
- - Ông Phan H4 là cha đẻ của bị cáo Phan Thị Thúy H2, không biết H2 đưa ma tuý về cất dấu tại nhà để bán, không giúp sức gì cho H2 nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.
[3] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Cần phải tịch thu tiêu huỷ số ma tuý đang tạm giữ và các công cụ, phương tiện để sử dụng ma tuý; Tịch thu sung quỹ đối với các điện thoại của bị cáo và truy thu số tiền bị cáo H2 bán ma tuý cho T.
[4] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo H2 thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và người liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Phan Thị Thúy H2 phạm “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn T 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; các điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 32; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thị Thúy H2 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2024.
2. Về xử lý vật chứng và tài sản:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
+ Tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 phong bì thư màu trắng, bên ngoài có chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH - PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, được dán kín lại, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia, bên trong có: 02 túi ni lông trong suốt chứa bên trong 0,7513 gam ma túy Methamphetamine, 05 túi nilon màu trắng có cùng kích thước (1,5x2)cm.
- - 01 vỏ bao thuốc lá “Thăng Long”, nắp vỏ bao đã xé bỏ;
- - 01 bật lửa khò màu trắng dán nhãn “Hoa Việt”, đã qua sử dụng;
- - 03 bật lửa gas màu đỏ, đã qua sử dụng;
- - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, gồm: 01 chén sứ màu trắng được gắn với phần đầu chai nựa có nắp chai nhựa màu đỏ và 01 ống hút dài khoảng 20cm, trên nắp được đục 01 lỗ gắn với ống thủy tinh bị vỡ một phần đầu phễu;
- - 01 ống thủy tinh màu trắng phần đầu phễu đã bị vỡ, uốn cong phần giữa;
- - 01 ống hút nhựa màu đỏ dài 3,5 cm, một đầu được cắt vát nhọn;
- - 01 hộp đựng thuốc, bên ngoài có chữ “SÂM NHUNG BỔ THẬN”.
- - Các thẻ sim: 0899200746, 0899462250, 0988462250
+ Tịch thu, hóa giá sung quỹ nhà nước:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen của Phan Thị Thúy H2.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen của Bùi Văn T.
Tình trạng đặc điểm vật chứng có tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc.
+ Truy thu từ Phan Thị Thúy H2 số tiền 500.000 đồng.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Phan Thị Thúy H2; buộc bị cáo Bùi Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thanh |
Quyết định số 48/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự sơ thẩm
- Số quyết định: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Phan Thị Thúy Hằng phạm “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 32; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn Tiến 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2024. Căn cứ khoản 1 Điều 251; các điểm s, n khoản 1 Điều 51; Điều 32; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thị Thúy H2 32 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/8/2024.
