|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 48/2024/QĐ-PT |
Hà Nội, ngày 07 tháng 5 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Với Hội đồng xem xét phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Đặng Thị Thơm;
Các Thẩm phán: Ông Điều Văn Hằng;
Ông Bùi Anh Thắng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp:
Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Kiểm sát viên cao cấp.
Thư ký phiên họp: Ông Ngô Cảnh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 29/2023/QĐST-DS ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng căn cứ vào Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 235 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Á; địa chỉ: Số D đường N, phường E, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện hợp pháp: Bà Đào Thị L, địa chỉ: Số A P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội (theo Văn bản ủy quyền số 69/UQ-QLN.22 ngày 20/01/2022 và Văn bản ủy quyền số 1757/UQ-CNTL.22 ngày 15/12/2022).
- Bị đơn: Ông Đỗ Đình T, sinh năm 1976 và bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1976; nơi đăng ký thường trú: Số D L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng.
Ngày 04/10/2023, Ngân hàng TMCP Á (sau đây viết tắt là Ngân hàng A) do ông Từ Tiến P đại diện có đơn kháng cáo đề nghị hủy toàn bộ nội dung Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 29/2023/QĐST-DS ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
XÉT THẤY:
[1] Tại đơn ngày 15/12/2022 và qúa trình giải quyết: Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Đình T và bà Trần Thị Thanh H trả cho Ngân hàng A tổng số tiền tính đến ngày 09/12/2022 là 262.695.068 đồng, trong đó nợ gốc 99.000.000 đồng, lãi trong hạn 43.200.000 đồng, lãi quá hạn 104.967.123 đồng, phạt chậm trả lãi 15.527.945 đồng. Ngoài ra, ông Đỗ Đình T và bà Trần Thị Thanh H còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định theo Hợp đồng tín dụng số 01180113/UIL ngày 18/01/2013 tính từ ngày 10/12/2022 đến ngày trả hết nợ. Vì quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Đỗ Đình T và bà Trần Thị Thanh H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng A. Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nên căn cứ Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Sau đó, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền căn cứ Điều 38, Điều 41 Bộ luật Tố tụng dân sự chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết theo thẩm quyền.
[2] Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng cho rằng bị đơn là bà H, ông T không còn cư trú tại địa chỉ Ngân hàng cung cấp (Số D L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng) mà đã xuất cảnh ra nước ngoài và không xác định được địa chỉ mới; ngoài ra Ngân hàng không cung cấp bản chính Hợp đồng tín dụng số 01180113/UL ngày 18/01/2013, còn các tài liệu khác Ngân hàng cung cấp không đủ điều kiện xác thực quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP Á và ông Đỗ Đình T và bà Trần Thị Thanh H, từ đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 217, Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự ban hành Quyết định số 29/2023/QĐST-DS ngày 28/9/2023 đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
[3] Xét kháng cáo của Nguyên đơn Ngân hàng Á:
[3.1] Nguyên đơn Ngân hàng Á khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn là ông Đỗ Đình T và bà Trần Thị Thanh H; ngay từ khi nộp đơn và sau khi thụ lý vụ án, Ngân hàng không cung cấp bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp Hợp đồng tín dụng ngày 18/01/2013 giữa hai bên mà chỉ cung cấp bản phô tô Hợp đồng tín dụng, Thông báo lịch trả nợ vay ngày 18/01/2013, Giấy cam kết trả nợ vay ngày 11/01/2013. Trước khi Ngân hàng khởi kiện, ông Đỗ Đình T và bà Trần Thị Thanh H không còn cư trú tại địa chỉ đăng ký thường trú: Số D đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; ông T, bà H đã xuất cảnh ra nước ngoài và không xác định được địa chỉ nơi ở mới.
[3.2] Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng có Thông báo số 06/TB-TA ngày 27/02/2023 yêu cầu nguyên đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; trong đó yêu cầu Ngân hàng nộp xác nhận của Cơ quan có thẩm quyền về địa chỉ nơi cư trú của bị đơn và các tài liệu chứng minh cho việc khởi kiện là có căn cứ. Hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, nguyên đơn không cung cấp được các tài liệu theo yêu cầu sửa đổi, bổ sung của Tòa án và có đơn xin gia hạn thêm 15 ngày nhưng sau đó nguyên đơn bản trình bày do quá trình sắp xếp lại hồ sơ tín dụng sau thời điểm nộp đơn khởi kiện, Ngân hàng đã làm thất lạc bản chính Hợp đồng tín dụng số 01180113/UL ngày 18/01/2023 nên không thể cung cấp bản chính hoặc bản sao chứng thực theo yêu cầu của Tòa án.
[3.3] Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền lẽ ra phải căn cứ điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự để trả lại đơn khởi kiện cho nguyên đơn nhưng thụ lý vụ án khi chưa đủ điều kiện. Vì bị đơn là ông Đỗ Đình T đã xuất cảnh ra nước ngoài năm 2014 và bà Trần Thị Thanh H đã xuất cảnh ra nước ngoài năm 2017, hiện nay đều chưa có thông tin nhập cảnh về nước, ngoài ra kết quả xác minh tại địa phương nơi cư trú của ông T và bà H thể hiện ông T và bà H không còn sinh sống tại địa chỉ số D đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng và nguyên đơn khi khởi kiện không nộp kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm theo quy định tại khoản 5 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3.4] Sau khi Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng theo thẩm quyền thì Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng có yêu cầu nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Á (A) nộp tài liệu chứng cứ thì Ngân hàng vẫn không cung cấp bản chính Hợp đồng tín dụng mà chỉ nộp Thông báo lịch trả nợ vay ngày 18/01/2013, bản sao Giấy cam kết trả nợ vay ngày 18/01/2023 (không có cơ sở đối chiếu là chữ ký của ông T, bà H) nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ vụ án với lý do chưa đủ điều kiện là có căn cứ.
[3.5] Do đó, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Á, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp phù hợp với nhận định của Hội đồng nên được chấp nhận. Ngân hàng có quyền khởi kiện lại khi có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định pháp luật.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP Á phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Bởi các lẽ trên, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Á (do ông Từ Tiến P đại diện) và giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 29/2023/QĐST-DS ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Ngân hàng TMCP Á phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào số tiền đã nộp tại Biên lai tạm ứng án phí số 0000265 ngày 23/10/2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG PHIÊN HỌP PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN HỌP đã ký Đặng Thị Thơm |
Quyết định số 48/2024/QĐ-PT ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số quyết định: 48/2024/QĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyên đơn không cung cấp được đầy đủ tài liệu và địa chỉ mới của bị đơn không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
