Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 478/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/5/2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Quỳnh An

Ông Nguyễn Công Chiếm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kiều - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án - Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1250/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 395/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trịnh Hồ Minh C - Sinh năm: 1983
  2. Thường trú: 3/91 tổ G, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Chỗ ở hiện nay: 133 Nguyễn Thị S, khu phố B (tổ G, khu phố A cũ), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Có mặt)

  3. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Thùy L - Sinh năm: 1983
  4. Thường trú: 49/1, tổ C, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Chỗ ở hiện nay: 121 Nguyễn Thị S, khu phố B (tổ G, khu phố A cũ), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, biên bản hoà giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trịnh Hồ Minh C trình bày:

Ông Trịnh Hồ Minh C và bà Huỳnh Thị Thùy L tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyển số 01/2004 do U, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 02/6/2004. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Ông C đi làm ăn xa, thua lỗ nên ít về nhà, ít quan tâm đến vợ con, vợ chồng không có sự chia sẻ, cảm thông, tình cảm vợ chồng nhạt dần. Đến năm 2020 thì ông C ra ở riêng, hai vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Hai vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn và gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Hiện vợ chồng ông mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm, chăm sóc cho ai, không cùng nhau chăm sóc con cái. Từ khi 02 vợ chồng ông bà sống ly thân đến nay con chung do bà Huỳnh Thị Thùy L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ và ông Trịnh Hồ Minh C không còn tình cảm gì với bà Huỳnh Thị Thùy L nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Huỳnh Thị Thùy L.

Về con chung: có 03 con chung tên Trịnh Huỳnh Minh T, sinh ngày 14/8/2005 (đã trưởng thành); Trịnh Huỳnh Minh K, sinh ngày 04/11/2011; Trịnh Huỳnh Phúc A, sinh ngày 01/9/2015.

Ông Trịnh Hồ Minh C tự nguyện giao 02 (hai) con chung tên Trịnh Huỳnh Minh K, sinh ngày 04/11/2011 và Trịnh Huỳnh Phúc A, sinh ngày 01/9/2015 cho bà Huỳnh Thị Thùy L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Ông Trịnh Hồ Minh C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung tên Trịnh Huỳnh Minh K, sinh ngày 04/11/2011 và Trịnh Huỳnh Phúc A, sinh ngày 01/9/2015 mỗi con chung mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng cho đến khi các con chung trưởng thành.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: hai bên sẽ tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản hoà giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa bị đơn bà Huỳnh Thị Thùy L trình bày:

Bà Huỳnh Thị Thùy L xác nhận lời trình bày của ông Trịnh Hồ Minh C về quá trình kết hôn, về mâu thuẫn vợ chồng. Hiện hai vợ chồng không có tiếng nói chung, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm, chăm sóc cho ai, ông C không cùng bà chăm sóc con cái. Bà L không còn tình cảm gì với ông C. Bà L không có phương án nào để hàn gắn quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng. Bà L không đồng ý ly hôn với ông C. Nếu ông C cương quyết ly hôn thì bà L yêu cầu ông C và bố mẹ ông C phải cam kết làm thủ tục tặng cho và tách thửa sang tên cho các con của bà L và ông C căn nhà và đất ở tại địa chỉ số A N, tổ G, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh mà mẹ con bà L đang ở. Nhà đất này thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bố mẹ ông C.

Về con chung: có 03 con chung tên là Trịnh Huỳnh Minh T, sinh ngày 14/8/2005 (đã trưởng thành), Trịnh Huỳnh Minh K, sinh ngày 04/11/2011, Trịnh Huỳnh Phúc A, sinh ngày 01/9/2015.

Nếu ông C cương quyết ly hôn thì bà Huỳnh Thị Thùy L yêu cầu được nuôi tất cả các con chung đến tuổi trưởng thành. Về phần cấp dưỡng nuôi con chung bà L đồng ý mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con mà ông C đưa ra.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
  2. Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Đây là tranh chấp về ly hôn. Bị đơn đang cư trú tại Quận A nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về các yêu cầu của đương sự:
  4. Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

    Ông Trịnh Hồ Minh C và bà Huỳnh Thị Thùy L tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Như vậy, hôn nhân của ông Trịnh Hồ Minh C và bà Huỳnh Thị Thùy L được thực hiện theo đúng các điều kiện và thủ tục kết hôn nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

    Theo lời trình bày của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: quan hệ tình cảm vợ chồng giữa ông Trịnh Hồ Minh C và bà Huỳnh Thị Thùy L thực sự mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, cùng nhau nuôi dạy con cái. Bà Huỳnh Thị Thùy L không muốn ly hôn nhưng không có phương án nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông C. Xét thấy, đời sống chung giữa vợ chồng ông Trịnh Hồ Minh C và bà Huỳnh Thị Thùy L không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của ông Trịnh Hồ Minh C là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại các Điều 19, 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

    Về con chung: Ông Trịnh Hồ Minh C tự nguyện giao 02 (hai) con chung tên Trịnh Huỳnh Minh K, sinh ngày 04/11/2011 và Trịnh Huỳnh Phúc A, sinh ngày 01/9/2015 cho bà Huỳnh Thị Thùy L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và bà Huỳnh Thị Thùy L cũng có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung đến tuổi trưởng thành. Các con chung đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ nên yêu cầu được nuôi các con chung của bà Huỳnh Thị Thùy L là có cơ sở và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

    Về phần cấp dưỡng nuôi con:

    Ông Trịnh Hồ Minh C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung tên Trịnh Huỳnh Minh K, sinh ngày 04/11/2011 và Trịnh Huỳnh Phúc A, sinh ngày 01/9/2015 mỗi con mỗi tháng 1.500.000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng. Bà Huỳnh Thị Thùy L đồng ý mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng mà ông C đưa ra. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

  5. Đối với ý kiến của bà L về việc đề nghị ông C nói chuyện với ba mẹ ông C để ba mẹ ông C làm thủ tục tặng cho, tách thửa, sang tên cho các con của bà L và ông C căn nhà mà bà L và các con đang ở tại địa chỉ A N, Khu phố B (tổ G, Khu phố 1 cũ), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử xét thấy nhà đất này không phải là tài sản chung của ông C và bà L mà là tài sản của cha mẹ ông C nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
  6. Ông Trịnh Hồ Minh C và bà Huỳnh Thị Thùy L không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  7. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng ông Trịnh Hồ Minh C phải nộp, được cấn trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng ông Trịnh Hồ Minh C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0031269 ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12. Như vậy, ông Trịnh Hồ Minh C phải nộp thêm 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ các Điều 8, 9, 19, 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Trịnh Hồ Minh C được ly hôn với bà Huỳnh Thị Thùy L.
    • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 46, quyển số 01/2004 do U, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 02/6/2004 không còn giá trị pháp lý.

    • - Về con chung: có 03 con chung tên Trịnh Huỳnh Minh T, sinh ngày 14/8/2005 (đã trưởng thành); Trịnh Huỳnh Minh K, sinh ngày 04/11/2011; Trịnh Huỳnh Phúc A, sinh ngày 01/9/2015.
    • Giao 02 (hai) con chung tên Trịnh Huỳnh Minh K, sinh ngày 04/11/2011 và Trịnh Huỳnh Phúc A, sinh ngày 01/9/2015 cho bà Huỳnh Thị Thùy L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

      Ông Trịnh Hồ Minh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Trịnh Huỳnh Minh K, sinh ngày 04/11/2011 và Trịnh Huỳnh Phúc A, sinh ngày 01/9/2015 mỗi con mỗi tháng 1.500.000 (Một triệu năm trăm ngàn) đồng cho đến khi con chung trưởng thành.

      Địa điểm cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận hoặc thực hiện tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

      Không ai được ngăn cản quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của người con khi cần thiết có thể xin thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

      Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    • - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng ông Trịnh Hồ Minh C phải nộp, được cấn trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng ông Trịnh Hồ Minh C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0031269 ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12. Ông Trịnh Hồ Minh C phải nộp thêm 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Viện kiểm sát cùng cấp;

- Chi cục Thi hành án dân sự Q12;

- Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 478/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số quyết định: 478/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger