|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST
Ngày 14 tháng 8 năm 2024
V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Duyên
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tuấn Chiến
Ông Vũ Quý Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Tuyết Mai – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 78/2024/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị L - sinh năm 1988;
Địa chỉ: Khu T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T - sinh năm 1983;
Địa chỉ: Khu T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Chị L, anh T đều vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và nội dung tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trần Thị L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Xuân T tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 31/7/2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được một thời gian sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, quan điểm bất đồng, tình cảm vợ chồng không còn như trước, hôn nhân không hạnh phúc. Vì không thể tiếp tục chung sống với anh T được nữa nên chị đã về bố mẹ đẻ ở và vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 02/2024 cho đến nay. Mâu thuẫn đã trầm trọng không thể hòa giải được,chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là Nguyễn Hoài P, sinh ngày 16/7/2008 và Nguyễn Hoài N, sinh ngày 30/9/2011. Sau khi ly hôn chị có nguyên vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai con chung và tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Xuân T không đến Tòa án làm việc nhưng đã có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nội dung quan điểm của anh T như sau: Anh và chị Trần Thị L tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 31/7/2007, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Theo anh một phần mâu thuẫn là do chị L biết anh có chơi và nợ tiền lô, đề. Chị L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã P không quan tâm đến anh nữa, từ đó vợ chồng cũng không nói chuyện, hàn gắn, giải quyết mâu thuẫn. Đến nay, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn là tùy chị L còn anh không nhất trí ly hôn. Anh xin vắng mặt trong các buổi làm việc tại Tòa án.
Về con chung: Anh và chị L có 02 con chung là Nguyễn Hoài P, sinh ngày 16/7/2008 và Nguyễn Hoài N, sinh ngày 30/9/2011. Sau khi ly hôn anh nhất trí để chị L trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp, ruộng đất: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn là chị L đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh T không thực hiện quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Nguyễn Xuân T.
Về con chung: Giao cho chị Trần Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là cháu Nguyễn Hoài P, sinh ngày 16/7/2008 và cháu Nguyễn Hoài N, sinh ngày 30/9/2011, kể từ khi ly hôn cho đến khi từng cháu thành niên. Anh Nguyễn Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Trần Thị L tự nguyện không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí chị Trần Thị L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Trần Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với bị đơn là anh Nguyễn Xuân T, nơi cư trú tại khu T, xã T, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, xác định vụ án có quan hệ tranh chấp về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị L và bị đơn là anh Nguyễn Xuân T đều vắng mặt nhưng đã đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án đã Quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn phù hợp các quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Nguyễn Xuân T được UBND xã T đăng ký kết hôn vào ngày 31/7/2007 trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của Pháp luật và được cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, từ nhiều tháng nay chị L và anh T đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Kết quả thu thập chứng cứ và lời trình bày của đương sự cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn lại, nếu cứ tiếp tục ràng buộc cũng không có hạnh phúc mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, chị L xin ly hôn anh T là có căn cứ phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Chị Trần Thị L và anh Nguyễn Xuân T đều xác nhận có 02 con chung là cháu Nguyễn Hoài P, sinh ngày 16/7/2008 và cháu Nguyễn Hoài N, sinh ngày 30/9/2011. Sau khi ly hôn, chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Các con chung đều thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ là chị L. Bị đơn là anh Nguyễn Xuân T cũng đồng ý để chị L được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Do vậy, cần giao cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là phù hợp. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị L tự nguyện không yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị L và anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết và vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[3.] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị L chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trần Thị L được ly hôn anh Nguyễn Xuân T.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị L được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung là cháu Nguyễn Hoài P, sinh ngày 16/7/2008 và cháu Nguyễn Hoài N, sinh ngày 30/9/2011, kể từ khi ly hôn cho đến khi từng cháu thành niên. Anh Nguyễn Xuân T không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Trần Thị L tự nguyện không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Xuân T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Tòa án không giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0002217 ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng. Chị Trần Thị L đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Trần Thị L và bị đơn anh Nguyễn Xuân T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Bùi Thị Duyên |
5
6
Quyết định số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số quyết định: 44/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
