Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG


Số: 46/2021/DS-GĐT
Ngày 08/7/2021
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ỦY BAN THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

  • Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng gồm có:
    Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự.
    Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Tuấn và ông Nguyễn Văn Tiến.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trần Viết Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa giám đốc thẩm xét xử vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Quang Th, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn X, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1978; địa chỉ: T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Bà Đặng Thị N, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn X, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Phạm Thị Hoài Ph, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn M, xã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Khu Trung tâm hành chính huyện C, xã D, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn P – Phó phòng tài nguyên và môi trường huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
  • Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Buôn Kram, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1988, chức vụ Công chức địa chính xây dựng – Nông nghiệp và môi trường E.
  • Công ty Cổ phần C – Nông trường 19/8; địa chỉ: Thôn M, xã B, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn H – Chức vụ: Nhân viên Phòng kỹ thuật sản suất.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa ông Nguyễn Đức T, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Năm 1990, vợ chồng ông Th và bà Th có ký Hợp đồng với Công ty Cổ phần C - Nông trường 19/8 (gọi tắt là Nông trường) về việc trồng mới và chăm sóc cây cà phê với diện tích 900 m2, khi đó lô đất thuộc quyền quản lý và sử dụng của Nông trường (nay thuộc thửa đất số 7026, tờ bản đồ số 32 tại thôn 09, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk). Thời gian hợp đồng là 15 năm. Đang trong giai đoạn thực hiện Hợp đồng thì UBND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Quyết định số 2265/QĐ-UBND ngày 29/10/1997 về việc thu hồi 80 ha đất của Nông trường giao cho UBND huyện Krông Ana quản lý, trong đó có 900 m2 đất nói trên. Sau khi UBND tỉnh thu hồi đất của Nông trường giao cho UBND huyện Krông Ana (nay là huyện C) quản lý, gia đình ông Th, bà Th tiếp tục quản lý, sử dụng thửa đất này. Năm 2004 Nông trường buộc gia đình ông Th, bà Th phải bàn giao đất cho Nông trường, trong khi đó, diện tích đất này UBND tỉnh đã thu hồi, không thuộc quyền quản lý của Nông trường nữa. Một thời gian sau, gia đình ông Th, bà Th thấy hộ bà Đặng Thị N canh tác và sử dụng thửa đất trên. Nhận thấy việc gia đình bà Đặng Thị N chiếm dụng, canh tác thửa đất 7026 là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông Th, bà Th nên gia đình ông Th, bà Th đã nhiều lần yêu cầu gia đình bà N phải trả lại diện tích đất đang sử dụng nhưng gia đình bà N không thực hiện mà vẫn cố tình canh tác, sử dụng thửa đất trên từ năm 2009 cho đến nay.

Việc bà Đặng Thị N canh tác, sử dụng diện tích đất trên là do vào năm 2009, Nông trường có ký hợp đồng giao khoán với bà Đặng Thị N và giao cho bà N canh tác, sản xuất. Như vậy, Nông trường ký hợp đồng giao khoán với hộ bà N là trái quy định của pháp luật, vì thửa đất này nằm trong diện tích đã được UBND tỉnh thu hồi, không thuộc quyền sử dụng của Nông trường nữa. Hiện nay gia đình bà Đặng Thị N đang làm các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc làm này là chưa phù hợp với quy định của pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông Th, bà Th.

Do đó, đề nghị Tòa án buộc gia đình bà Đặng Thị N phải giao trả lại thửa đất số 7026, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại thôn 09, xã E, huyện Cư Kuin cho gia đình ông Th, bà Th tiếp tục canh tác, quản lý, sử dụng và kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, bà Đặng Thị N do bà Phạm Thị Hoài Ph là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Năm 2009 bà Đặng Thị N có nhận đất giao khoán của Công ty cao su Đắk Lắk - Nông trường 19/8 với diện tích 858 m2 theo biên bản Hợp đồng chăm sóc cà phê ký kết với Nông trường vào ngày 05/01/2009 (nay là thửa đất số 7026, tờ bản đồ số 32 tại thôn 09, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk). Thửa đất này có nguồn gốc trước đây Nông trường ký hợp đồng với ông Lê Quang Th vào năm 1998 và ông Th đề nghị thanh lý hợp đồng vào năm 2009, sau đó Nông trường ký Hợp đồng và giao đất cho bà N vào ngày 05/01/2009 và bà N đã sử dụng trồng cà phê, tiêu và đã nộp sản lượng thuế và thực hiện các thủ tục về đất đai cho Nông trường và Nhà nước từ đó cho đến nay không có ai tranh chấp.

Ngày 13/3/2014, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 1072/QĐUBND về việc quản lý, bố trí sử dụng 10.995 m2 đất (trong đó thửa đất số 7026, tờ bản đồ số 32) mà ủy ban nhân dân tỉnh thu hồi của Nông trường bàn giao về địa phương để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những hộ gia đình đang sử dụng đất nên vợ chồng ông Th, bà N mới phát sinh tranh chấp. Theo nội dung Quyết định này thì hộ bà Đặng Thị N là người đang quản lý và sử dụng thửa đất nói trên nên là đối tượng được công nhận và cấp quyền sử dụng đất. Do đó, bà N không đồng ý trả lại đất và đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho bà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Năm 1990 ông Lê Quang Th ký Hợp đồng với Công ty Cổ phần C - Nông trường 19/8 diện tích đất 900m2 (đo thực tế 1.093m2) để sử dụng và chăm sóc cây cà phê. Đến năm 2008 thì ông Th có Đơn đề nghị thanh lý hợp đồng này; ngày 05 tháng 01 năm 2009 Nông trường đã lập biên bản thanh lý hợp đồng đối với ông Th; cùng ngày bà Đặng Thị N có Đơn đề nghị ký hợp đồng đối với diện tích đất mà ông Th đã thanh lý với Nông trường và Nông trường đã ký hợp đồng với bà N, giao toàn bộ thửa đất cho bà N quản lý, sử dụng cho đến nay. Bà N đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về đất đai cho Nông trường và Nhà nước.

[2] Ngày 13/3/2014, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 1072/QĐ-UBND về việc quản lý, bố trí sử dụng 10.995m2 đất đã thu hồi của Nông trường 19/8 để bàn giao về địa phương, trong đó có diện tích đất hiện nay các bên đang tranh chấp mà bà N đang sử dụng.

[3] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự thì bà Đặng Thị N đã sử dụng thửa đất số 7026 ổn định từ tháng 01/2009 cho đến năm 2014. Căn cứ vào nội dung của Quyết định và trên thực tế bà Đặng Thị N là người đang trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất số 7026, tờ bản đồ số 32 nên là đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, ông Th khởi kiện yêu cầu bà N trả lại đất là không có cơ sở.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 337; khoản 2 Điều 343, Điều 344, Điều 348, Điều 349 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

  1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 49/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 13/4/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng;
  2. Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 232/2020/DS-PT ngày 29/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2020/DS-ST ngày 13/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Lê Quang Th, bà Nguyễn Thị Th với bị đơn là bà Đặng Thị N.
  3. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định.
Nơi nhận:
- Vụ Giám đốc kiểm tra II-TANDTC;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
- Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk;
- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk;
- Chi cục THADS huyện C, tỉnh Đắk Lắk (để thi hành);
- Các đương sự;
- Lưu: Phòng HCTP; Phòng GĐKT -II.
TM. ỦY BAN THẨM PHÁN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Lê Tự
THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 46/2021/DS-GĐT ngày 08/07/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số quyết định: 46/2021/DS-GĐT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 49/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 13/4/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng; Hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 232/2020/DS-PT ngày 29/12/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2020/DS-ST ngày 13/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là ông Lê Quang Th, bà Nguyễn Thị Th với bị đơn là bà Đặng Thị N.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger