Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 455/2024/DS-ST

Ngày: 20/9/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Lợi;
  2. Bà Dương Thị Thúy Duy.

Thư ký phiên tòa: Ông Hà Thanh Ngọc - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Phú mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 247/2024/TLST – DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định xét xử số: 247/2024/QĐXXST - DS ngày 23/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 890/2024/QÐST-DS ngày 29/8/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn M (C). Địa chỉ: Lầu E, khối E, Tòa nhà C, số B C, phường A, quận T, TP .. Người đại diện theo pháp luật: Bà Hà Phương Hồng T – Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê T1, sinh năm 2000, theo Giấy ủy quyền số 6690/2024/AP.AG-GalaxyDT ngày 28/6/2024 của Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ G – Vắng mặt có đơn.

Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1982, cư trú: ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Lê T1 trình bày:

Ngày 08/01/2018, ông Huỳnh Văn T2 có ký hợp đồng tín dụng số 20180105-00010248 với Công ty T3 để vay 27.930.000đ, thời gian vay 15 tháng, lãi suất vay 45%/năm. Để đảm bảo khoản vay, ông T2 đã ký hợp đồng thế chấp tài sản là xe máy nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 67G1-468.27 mang tên ông Huỳnh Văn T2.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 08/01/2018 đến 01/10/2018, ông T2 đã thanh toán được 9.924.000đ còn nợ lại 26.932.123đ đồng trong đó nợ gốc là 22.294.610đ, lãi 4.493.513đ, đến nay không thanh toán thêm dù nhân viên Công ty đã nhiều lần liên hệ.

Ngày 29/3/2021, Công ty T3 ký hợp đồng mua bán nợ với Công ty M đối với số nợ của ông T2.

Nhận thấy việc ông T2 không thanh toán đã vi phạm nghĩa vụ. Do đó, Công ty M khởi kiện yêu cầu ông T2:

  • Phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ với số tiền gốc 22.294.610đ;
  • Trường hợp ông T2 không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng thì Công ty M được xử lý tài sản thể chấp để thu hồi nợ;
  • Ông T2 phải chịu mọi chi phí phát sinh trong quá trình giải quyết vụ kiện theo quy định của pháp luật.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt hợp lệ thông báo, quyết định cho ông Huỳnh Văn T2 theo quy định, ông nhận được nhưng ông không có ý kiến về việc khởi kiện của Công ty M.

Tòa tiến hành thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đến ông T2 nhưng ông cũng không phản hồi.

Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ.

Theo biên bản xác minh của Ban N ngày 30/7/2024 thể hiện: Ông T2 hiện đang cư trú cùng gia đình tại tổ A, ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang, chưa có thông tin tách chuyển đi nơi khác. Ông T2 không phải là đối tượng chính sách, hộ nghèo, cận nghèo của địa phương.

Theo Thông tin về dân cư do Công an xã K ngày 30/7/2024 cung cấp thể hiện ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1982, nhân khẩu hiện vẫn do Công an xã K quản lý. Ông T2 có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, ấp T, xã K.

Ngày 09/8/2024, Tòa án ban hành Quyết định cung cấp chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 20/8/2024, phía nguyên đơn nhận được và giao nộp theo yêu cầu.

Tại phiên tòa hôm nay, ông T1 vắng mặt có đơn. Riêng ông T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt hai bên theo thủ tục chung.

Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tiến hành thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật, bảo đảm đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự; Thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung:

Trong quá trình giải quyết vụ kiến, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các thông báo về việc thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ông Huỳnh Văn T2 nhưng ông không có ý kiến gì và cũng không tham gia phiên hòa giải do Tòa án triệu tập, nên xem như từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình đã được pháp luật bảo vệ. Do ông T2 không cung cấp được chứng cứ để phản bác lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên căn cứ theo quy định tại Điều 91 và khoản 2 Điều 92 của BLTTDS, có cơ sở xác định ông Huỳnh Văn T2 có ký kết hợp đồng vay với Công ty T3 và trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán khoản nợ vay nên việc Công ty M khởi kiện yêu cầu ông phải trả lại số tiền nợ gốc là 22.294.610đ là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại các Điều 463, 465, 466 của Bộ luật dân sự 2015, nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

Ngoài ra, phía nguyên đơn chỉ yêu cầu ông Huỳnh Văn T2 thanh toán nợ gốc mà không yêu cầu tính lãi suất phát sinh là có lợi cho bị đơn, nên đề nghị HĐXX công nhận sự tự nguyện này.

Bên cạnh đó, để đảm bảo khoản tiền vay, ông T2 đã ký hợp đồng thế chấp tài sản là xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 67G1-468.27 mang tên Huỳnh Văn T2. Nguyên đơn có yêu cầu nếu ông T2 không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng thì Công ty M được xử lý tài sản thể chấp để thu hồi nợ.

Tuy nhiên, vào ngày 21/8/2024, phía nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 67G1-468.27 mang tên Huỳnh Văn T2. Xét thấy, việc đương sự rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, phù hợp theo quy định của pháp luật và có lợi cho bị đơn, nên căn cứ quy định tại Điều 244 BLTTDS năm 2015, đề nghị HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu mà đương sự đã rút.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên nguyên đơn phải chịu án phí DSST đối với một phần yêu cầu không được chấp nhận. Riêng bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu của Công ty M được chấp nhận theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Công ty M khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Huỳnh Văn T2 thanh toán số tiền 22.294.610đ nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là phù hợp theo quy định tại tại khoản 2, khoản 9, Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Khoản 2, Điều 14, Điều 5, Điều 6, Điều 365 và Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Về thời hiệu, thẩm quyền giải quyết:

Theo hợp đồng tín dụng ngày 08/01/2018 giữa Công ty T3 và ông T2 ký kết thì thời hạn vay 15 tháng, ông T2 đã thanh toán được 9.924.000₫ số còn lại không thanh toán. Ngày 29/3/2021, phía Công ty T3 chuyển giao quyền yêu cầu cho Công ty M và khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 154 và Điều 429 Bộ luật dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

Ông T2 hiện có địa chỉ nơi đăng ký thường trú tại xã K, huyện A. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, An Giang.

[3] Về tư cách tham gia tố tụng: Trong vụ án này do Công ty M khởi kiện ông T2 nên xác định Công ty M là nguyên đơn, ông T2 là bị đơn; việc ủy quyền của ông Nguyễn Lê T1 là đúng quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 68, Điều 87 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay ông T1 đơn xin xét xử vắng mặt, riêng ông T2 đã được Hội đồng xét xử triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các ông là đúng quy định.

[5] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện:

Ngày 21/8/2024, phía nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 67G1-468.27. Hội đồng xét xử xét thấy nội dung rút một phần yêu cầu thực hiện đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 71, 217 và Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, có lợi cho phía bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện nêu trên của nguyên đơn.

[6] Về nội dung vụ án:

Hợp đồng tín dụng số 20180105-00010248 ngày 08/01/2018 giữa ông Huỳnh Văn T2 với Công ty T3 được lập thành văn bản, hình thức vay tín chấp. Nội dung Hợp đồng ghi nhận việc ông T2 nhận vay 27.930.000đ, thời gian vay 15 tháng để sử dụng vào mục đích tiêu dùng, lãi suất 45%/năm. Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, quá hạn, cơ chế điều chỉnh lãi suất, thông tin cá nhân khách hàng và cam kết của các bên.

Hội đồng xét xử nhận thấy, ông T2 có đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện thỏa thuận giao kết, hợp đồng được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ.

Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Điều 370 của Bộ luật dân sự 2015, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định giữa ông Huỳnh Văn T2 có ký kết hợp đồng vay với Công ty T3, giải ngân cho ông T2 số tiền 27.930.000đ, hạn thanh toán cuối cùng ngày 16/4/2019 nhưng đến nay ông T2 chưa thanh toán đầy đủ, còn nợ lại 22.294.610đ. Ông T2 đã vi phạm hợp đồng nên phát sinh lỗi. Ngày 29/3/2021, Công ty T3 và Công ty M có Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-GALAXY-21-003 ngày 30/3/2021.

Từ những phân tích trên, căn cứ Điều 463, 465, 466 của Bộ luật dân sự 2015 quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay là trả đủ tiền và đúng hạn. Tuy nhiên, đã quá thời hạn thanh toán theo thỏa thuận mà bà H không trả nợ. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí.

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 161, Điều 266, 217, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 370, 429, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn M về xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là xe máy nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 67G1-468.27 mang tên Huỳnh Văn T2.

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn M.

Buộc ông Huỳnh Văn T2 phải thanh toán cho Công ty trách nhiệm hữu hạn M số tiền 22.294.610đ (Hai mươi hai triệu hai trăm chín mươi bốn ngàn sáu trăm mười đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành đầy đủ khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.

2. Về án phí:

Ông Huỳnh Văn T2 phải chịu 1.114.731đ án phí dân sự sơ thẩm,

Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ G1 được hoàn lại số tiền 560.000₫ tạm ứng án phí theo biên lai tạm ứng án phí số 0009677 ngày 22/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Phú.

Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/9/2024); các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

(Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.).

 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thảo Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 455/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số quyết định: 455/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty M yêu cầu ông T2 phải trả lại tiền vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger