Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ VIỆT YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/DS-ST

Ngày 25-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Ngôn và bà Nguyễn Đức Hiền.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Ánh – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Việt Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Việt Anh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25/7/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Việt Yên xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-DS ngày 23/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-DS ngày 01/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QÐST-DS ngày 01/7/2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 01/TB-TA ngày 15/7/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N (A).

Địa chỉ trụ sở: số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V- chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Văn K. Chức vụ: Giám đốc A - Chi nhánh K Bắc Giang.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn L. Chức vụ: Trưởng phòng khách hành A – Chi nhánh khu công nghiệp Đ Bắc Giang. (vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Phạm Hoàng Y; năm sinh: 1984. Địa chỉ: Số nhà H, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, ông Nguyễn Văn L là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 2502LAV200803387 ngày 19/11/2008 đã ký giữa A Chi nhánh Khu công nghiệp Đ Bắc Giang (Bên cho vay- Bên A) với bà Phạm Hoàng Y (Bên vay vốn- Bên B).

Hai bên đã cam kết thống nhất trên hợp đồng tín dụng về việc bên A cho bên B vay tiền theo nội dung thỏa thuận dưới đây:

Hợp đồng tín dụng được cấp: 15.000.000 đồng. (Bằng chữ: Mười lăm triệu đồng chẵn).

Thời hạn cho vay: 36 tháng.

Mục đích sử dụng tiền vay: Mua đồ nội thất

Dư nợ gốc đến ngày 25/7/2024 là: 10.000.000đồng.

*Tài sản đảm bảo: Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.

Quá trình vay, bà Phạm Hoàng Y đã vi phạm hợp đồng tín dụng số: 2502LAV200803387 ngày 19/11/2008, không trả nợ gốc, lãi đầy đủ đúng hạn. Khoản vay của bà Y đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 19/11/2011.

Nay A yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang buộc bà Phạm Hoàng Y phải trả nợ số tiền: 25.755.348 đồng. Trong đó:

Nợ gốc là: 10.000.000 đồng.

Nợ lãi là: 15.755.348 đồng.

Và toàn bộ số tiền lãi, phí phát sinh đến khi trả hết nợ gốc.

Bị đơn bà Phạm Hoàng Y vắng mặt tại phiên toà nhưng có lời khai trình bày:

Bà Y xác nhận vào năm 2009, Công ty cổ phần C nơi bà công tác có cho nhân viên đi ký hợp đồng tín dụng vay tiền. Vào thời điểm đó bà Y đang làm công nhân cho Công ty. Bà Y có ký tên hợp đồng tín dụng nhưng bà Y không được nhận tiền trực tiếp từ Ngân hàng và không được nhận giấy biên nhận vay tiền, số tiền vay Ngân hàng được chuyển cho Công ty, bà Y không được nhận tiền.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, buộc bà Phạm Hoàng Y phải trả cho Ngân hàng N tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 25/7/2024 là 25.755.348 đồng (Hai mươi lăm triệu bẩy trăm năm mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi tám đồng) trong đó nợ gốc là 10.000.000 đồng, nợ lãi 15.755.348 đồng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bà Phạm Hoàng Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được Toà án chấp nhận. Hoàn trả Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và việc thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bị đơn là bà Phạm Hoàng Y trả tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký, do bà Y vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo theo thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng tín dụng. Nguyên đơn có giấy phép đăng ký kinh doanh, bị đơn không có giấy phép đăng ký kinh doanh. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn cư trú tại số nhà H, đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Các bên thực hiện hợp đồng tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh Khu công nghiệp Đ, địa chỉ: Lô B, Khu công nghiệp Đ, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

[2] Về thời hiệu: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 2502LAV200803387 và phụ lục hợp đồng ngày 19/11/2008; Hợp đồng tín dụng bổ sung về áp dụng lãi suất cho vay linh hoạt ngày 15/4/2009 ký kết giữa Ngân hàng N chi nhánh K Bắc Giang thì bà Phạm Hoàng Y vay tiền của Ngân hàng N Chi nhánh khu công nghiệp Đ Bắc Giang số tiền 15.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng kể từ ngày 21/11/2008. Ngày 19/11/2010 bà Y trả được 5.000.000 đồng tiền gốc và lãi phát sinh. Ngày 19/11/2011 bà Y không trả tiền gốc và lãi theo thỏa thuận và khoản nợ của bà Y chuyển quá hạn do bà Y vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngày 19/02/2024 Ngân hàng N nộp đơn khởi kiện yêu cầu bà Y trả số tiền vay. Vụ án không có đương sự nào yêu cầu áp dụng thời hiệu. Áp dụng khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không áp dụng quy định về thời hiệu.

[3] Về sự vắng mặt của các đương sự: đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt, đã có đơn xin vắng mặt, bà Phạm Hoàng Y vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ Điều 227; Điều 228, điểm a, b Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, lời khai của nguyên đơn, bị đơn đủ cơ sở xác định: Ngày 30/10/2008 bà Phạm Hoàng Y ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N để vay số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng); thời hạn vay 36 tháng, tính từ ngày 21/11/2008, phân kỳ trả nợ: Ngày 19/11/2009 trả 5.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh; ngày 19/11/2010 trả 5.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh; ngày 19/11/2011 trả 5.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh. Sau khi vay ngày 19/11/2010 bà Y trả được 5.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi phát sinh. Ngày 19/11/2011 bà Y không trả được tiền gốc, tiền lãi theo thỏa thuận, bà Y vi phạm nghĩa vụ thanh toán, khoản nợ chuyển nợ quá hạn từ ngày 19/11/2011. Việc bà Y không thực hiện trả nợ gốc và lãi theo kỳ hạn trả nợ là vi phạm điều khoản trong hợp đồng tín dụng và phục lục hợp đồng đã ký. Tính đến hết ngày 25/7/2024 bà Y còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 10.000.000 đồng và tiền lãi là 15.755.348 đồng.

Phạm Hoàng Y xác định năm 2008 có ký hợp đồng vay vốn với Ngân hàng N, trong hợp đồng ghi là để mua đồ nội thất, nhưng thực tế là vay tiền cho Công ty cổ phần C. Bản thân bà và gia đình không liên quan gì đến việc này. Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy bà Y là người ký hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng. Ngân hàng không đồng ý chuyển giao nghĩa vụ. Ngoài ra mặc dù hợp đồng tín dụng thể hiện bà Y vay tiền Ngân hàng để mua đồ nội thất, nhưng thực tế việc bà Y vay tiền, gia đình bà không được biết và bà Y không sử dụng tiền vay vào việc gia đình, hơn nữa Ngân hàng chỉ yêu cầu một mình bà Y phải trả số tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng.

Như vậy, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Phạm Hoàng Y trả số tiền nợ gốc và lãi nêu trên là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 370 Bộ luật dân sự, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-H ĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng.

[5] Căn cứ lời khai của bà Phạm Hoàng Y khai nhận là bà có đứng tên ký hợp đồng tín dụng vay tiền Ngân hàng nhưng bà không được nhận tiền mà Công ty cổ phần C được nhận tiền. Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ thì thấy: Hợp đồng tín dụng và phụ lục hợp đồng tín dụng bà Phạm Hoàng Y là người vay ký. Hiện Công ty cổ phần C bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không còn tồn tại trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Ngân hàng không đồng ý chuyển giao nghĩa vụ. Do đó Hội đồng xét xử không xác định Công ty C và các thành viên Hội đồng quản trị như bà Y cung cấp là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Sau này có tranh chấp, bà Phạm Hoàng Y được khởi kiện Công ty cổ phần C hoặc các thành viên hội đồng quản trị bằng vụ án khác.

[6] Về án phí: Yêu cầu của Ngân hàng N được chấp nhận nên bà Y phải chịu án phí dân sự theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hoàn trả Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; Điều 147; khoản 2 Điều 184; Điều 227; Điều 228; Điểm a, b Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ khoản 1 Điều 370, khoản 2 Điều 149 Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N:

    Buộc bà Phạm Hoàng Y phải trả cho Ngân hàng N tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 25/7/2024 là 25.755.348 đồng (Hai mươi lăm triệu bẩy trăm năm mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi tám đồng) trong đó nợ gốc là 10.000.000 đồng, nợ lãi 15.755.348 đồng.

    Kể từ sau ngày 25/7/2024, bà Phạm Hoàng Y còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 2502LAV200803387 ngày 19/11/2008 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Về án phí: Bà Phạm Hoàng Y phải trả án phí dân sự sơ thẩm là 1.287.700đ (Một triệu hai trăm tám mươi bẩy nghìn bẩy trăm đồng). Hoàn trả Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.254.000 đồng theo biên lai số 0003338 ngày 23/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thị xã Việt Yên;
  • - Chi cục THADS thị xã Việt Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 45/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số quyết định: 45/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hđ tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger