Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 447/2024/QĐST-HNGĐ

Quận G, ngày 15 tháng 7 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Căn cứ vào Khoản 4 Điều 397, Điều 212, Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, 82, 83, 84, Điều 116, Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Điều 468 của Bộ Luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 402/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 06 năm 2024 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

  1. Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1991
  2. Nguyễn Tú T, sinh năm 1992

Cùng địa chỉ: Số A đường T, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tạm trú: Số A đường T, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Thanh D và bà Nguyễn Tú T được xác lập vào năm 2014, có đăng ký kết hôn quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Hiện nay, ông Nguyễn Thanh D và bà Nguyễn Tú T đang cư trú tại Quận G. Ông Nguyễn Thanh D và bà Nguyễn Tú T cùng có Đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 7 giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Khoản 2 Điều 29; Điều 35; Điểm h Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì đây là loại việc dân sự yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Trong quá trình giải quyết việc dân sự, các đương sự thống nhất trình bày như sau:

Qua thời gian tìm hiểu thì cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2014, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 36/2014, quyển số 01/2014, đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo cả hai trình bày là do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên cả hai cùng yêu cầu Tòa án công nhận cho cả hai được thuận tình ly hôn.

Xét việc thuận tình ly hôn của các đương sự là sự tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm các quy định của pháp luật nên Tòa án ghi nhận.

[3] Về quan hệ con chung: Theo Giấy khai sinh số 194/2014, quyển số 01/2014, đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/5/2014 và Giấy khai sinh số 168/2018, đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 04/5/2018 xác định ông Nguyễn Thanh D và bà Nguyễn Tú T có 02 con chung là trẻ Nguyễn Hoàng Nhật K, sinh ngày 18/5/2011 và trẻ Nguyễn Hoàng Cát A, sinh ngày 27/4/2018. Sau khi ly hôn, cả hai thỏa thuận bà T là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, ông D cấp dưỡng nuôi con chung mỗi trẻ mỗi tháng 3.000.000 (ba triệu đồng). Việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu thi hành từ tháng 8/2024 cho đến khi phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Ông D có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Nếu có yêu cầu các đương sự sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự và không trái pháp luật nên Tòa án ghi nhận.

[4] Về quan hệ tài sản chung: Các đương sự xác nhận không có do đó không xem xét giải quyết nên Tòa án ghi nhận.

[5] Về quan hệ nợ chung: Các đương sự xác nhận không có do đó không xem xét giải quyết nên Tòa án ghi nhận.

[6] Về lệ phí việc dân sự: Các đương sự chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật.

Đã hết thời hạn 07 (Bảy) ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh D và bà Nguyễn Tú T thuận tình ly hôn (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 36/2014, quyển số 01/2014, đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh).
  • - Về con chung: Ông Nguyễn Thanh D và bà Nguyễn Tú T có 02 con chung là trẻ Nguyễn Hoàng Nhật K, sinh ngày 18/5/2011 và trẻ Nguyễn Hoàng Cát A, sinh ngày 27/4/2018. Sau khi ly hôn, giao bà T là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, ông D cấp dưỡng nuôi con chung mỗi trẻ mỗi tháng 3.000.000 (ba triệu đồng). Việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu thi hành từ tháng 8/2024 cho đến khi phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Trong trường hợp ông D chậm thi hành khoản tiền cấp dưỡng nuôi con thì ông D còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành.

Ông D có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Nếu có yêu cầu các đương sự sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác

  • - Về tài sản chung: Không có tài sản chung.
  • - Về nợ chung: Không có nợ chung
  • - Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Các đương sự chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng lệ phí số ký hiệu BLTU/23P số 0019475 ngày 25/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự đã nộp đủ lệ phí.

2. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 7;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7;
  • - UBND phường Tân Hưng, Quận 7;
  • - Lưu hồ sơ vụ án (TK Định).

THẨM PHÁN

Nguyễn Thị Diễm Phương

3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 447/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự

  • Số quyết định: 447/2024/QĐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Thanh Dũng và bà Nguyễn Tú Trinh được xác lập vào năm 2014, có đăng ký kết hôn quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Hiện nay, ông Nguyễn Thanh Dũng và bà Nguyễn Tú Trinh đang cư trú tại Quận 7. Ông Nguyễn Thanh Dũng và bà Nguyễn Tú Trinh cùng có Đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 7 giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Khoản 2 Điều 29; Điều 35; Điểm h Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì đây là loại việc dân sự yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7. [2] Về quan hệ hôn nhân: Trong quá trình giải quyết việc dân sự, các đương sự thống nhất trình bày như sau: Qua thời gian tìm hiểu thì cả hai tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2014, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 36/2014, quyển số 01/2014, đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo cả hai trình bày là do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên cả hai cùng yêu cầu Tòa án công nhận cho cả hai được thuận tình ly hôn. Xét việc thuận tình ly hôn của các đương sự là sự tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm các quy định của pháp luật nên Tòa án ghi nhận. [3] Về quan hệ con chung: Theo Giấy khai sinh số 194/2014, quyển số 01/2014, đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/5/2014 và Giấy khai sinh số 168/2018, đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 04/5/2018 xác định ông Nguyễn Thanh Dũng và bà Nguyễn Tú Trinh có 02 con chung là trẻ Nguyễn Hoàng Nhật Khang, sinh ngày 18/5/2011 và trẻ Nguyễn Hoàng Cát An, sinh ngày 27/4/2018. Sau khi ly hôn, cả hai thỏa thuận bà Trinh là người trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng 02 (hai) con chung, ông Dũng cấp dưỡng nuôi con chung mỗi trẻ mỗi tháng 3.000.000 (ba triệu đồng). Việc cấp dưỡng được thực hiện vào ngày 15 hàng tháng, bắt đầu thi hành từ tháng 8/2024 cho đến khi phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Ông Dũng có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con. Nếu có yêu cầu các đương sự sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự và không trái pháp luật nên Tòa án ghi nhận. [4] Về quan hệ tài sản chung: Các đương sự xác nhận không có do đó không xem xét giải quyết nên Tòa án ghi nhận. [5] Về quan hệ nợ chung: Các đương sự xác nhận không có do đó không xem xét giải quyết nên Tòa án ghi nhận.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger