|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THUỶ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2023/HS-ST Ngày 27-12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Huỳnh Thị Quyền Trân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đông Hà
- Ông Võ Xuân Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hol - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thuỷ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Dương Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2023/TLST-HS, ngày 04 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2023/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Dương Thiết T, tên gọi khác: Trung Rắn H; sinh ngày 01/01/1978 tại V, Hậu Giang; nơi cư trú: ấp C, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 06/01/1994 bị Tòa án nhân dân huyện Vị Thanh (củ) xử phạt 08 tháng tù về tội trộm cắp tài sản công dân.
- Ngày 19/11/1996 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ (củ) xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản công dân.
- Ngày 27/4/1998 bị Tòa án nhân dân tỉnh Cần Thơ (củ) xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản công dân theo bản án số 93/HSST.
- Ngày 28/4/1999 bị Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội trộm cắp tài sản công dân, theo bản án số 639/HSPT, chấp hành xong bản án ngày 22/01/2004.
- Ngày 29/7/2004 bị Ủy ban nhân dân tỉnh H ra Quyết định số 1024/QD-CT.UB áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng.
- Ngày 13/8/2009 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xử phạt 05 năm tù về tội trộm cắp tài sản, theo bản án số 61/2009/HSPT, chấp hành xong án phạt ngày 30/7/2013.
- Ngày 04/8/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xử phạt 18 tháng tù về tội cố ý gây thương tích theo bản án số 84/2015/HSPT, chấp hành xong hình phạt ngày 28/8/2016.
Bị cáo tạm giữ từ ngày 03/7/2023 đến ngày 07/7/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan liên quan đến vụ án:
- Ông Lê Chí T3, sinh năm 1990, nơi cư trú: Ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
- Ông Phạm Thanh H1, sinh năm 1991, nơi thường trú: Ấp A, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 13 giờ 05 phút, ngày 03/7/2023 Công an huyện V, tỉnh Hậu Giang phối hợp Công an thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang bắt quả tang Dương Thiết T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại ấp C, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang, tiến hành kiểm tra Dương Thiết T đã thu giữ: một bịch nylon được hàn kín có viền gài màu đỏ bên trong có chứa các tinh thể trong suốt nghi là ma túy; 01 xe mô tô biển kiểm soát số 95X1-004.26; Tiền Việt Nam 720.000 đồng; 01 căn cước công dân tên Lê Chí T3; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEL: 355/77057415108; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEL: 356948034787515.
Qua khám xét chỗ ở của Dương Thiết T, Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Hậu Giang, phát hiện và thu giữ một bộ dụng dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 ống hút bằng nhựa màu vàng; 01 ống thủy tinh phìn to một đầu; 01 chai nhựa có nắp màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số 644/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:Mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 1,19330 gam, loại Methamphetamine.
Qua quá trình điều tra Dương Thiết T khai nhận vào trưa ngày 03/7/2023, có Lê Chí T3, đến nhà chơi và nhờ T3 chạy xe tay ga màu đen không rõ biển kiểm soát của bạn T tên T4 (không rõ nhân thân) đến cửa hàng T7 thuộc ấp A, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang để cầm cố xe trên và được 1.500.000 đồng, khi cầm xe xong T đưa cho T3 số tiền 500.000 đồng để cất giữ giùm T, số tiền còn lại T cất giữ. Sau đó, T3 chở T về nhà, thì T4 sử dụng số điện thoại 0946.633.xxx gọi vào số máy của T3 kêu T3 đưa máy cho T để nói chuyện. T4 và T nói chuyện T3 không biết nội dung là gì thì T kêu T3 quay xe lại đến đường N thuộc ấp C, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang gần Trường P thì T xuống xe, còn T3 chạy xe đi chợ mua bánh mì và thuốc hút. Sau khi xuống xe T đi vào nhà Phạm Thanh H1 để mua ma túy với số tiền 1.000.000 đồng, để về sử dụng chung với T4, khi mua ma túy xong T để bịch ma túy vào túi áo phía trước ngực bên trái và đi ra lộ chờ anh T3 đến rướt, khi anh T3 chở T đi trên đường lộ nông thôn đến khu vực đầu cầu qua chùa T8 thuộc ấp C, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang.
Tại Bản cáo trạng số 50/CT-VKS-HVT ngày 30/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang đã truy tố bị cáo Dương Thiết T về “tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với hành vi của bị cáo Dương Thiết T là đủ yếu tố cấu thành “tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Dương Thiết Trung p “tội tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
- Về vật chứng của vụ án, đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng ma tuý còn lại sau giám định; Một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 một ống hút bằng nhựa màu vàng, 01 ống thủy tinh phìn to một đầu, 01 chai nhựa nắp màu trắng.
Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEL: 355/77057415108; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEL: 356948034787515.
Tài sản đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công huyện V xử lý trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét gồm: Trả lại cho Lê Chí T3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 95X1-004.26, một căn cước công dân tên Lê Chí T3 và tiền Việt Nam 220.000 đồng; Trả lại cho Dương Thiết T tiền Việt Nam 500.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, không có yêu cầu trong vụ án.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Lê Chí T3 và ông Phạm Thanh H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, việc vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố Tụng hình sự cũng như ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về tội danh: Vào khoảng 13 giờ 05 phút ngày 03/7/2023, tại đoạn đường lộ nông thôn đến khu vực đầu cầu qua chùa T8 thuộc ấp C, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hậu Giang, Công an huyện V phối hợp cùng Công an thị trấn Nàng Mau tiến hành kiểm tra và thu giữ trên người của bị cáo Dương Thiết T 01 bịch nylon được hàn kín có viền gài màu đỏ, bên trong có chứa các tinh thể trong suốt (nghi là ma túy đá) tại vị trí túi áo phía trước ngực bên trái. Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản, niêm phong theo quy định và tạm giữ tang vật có liên quan. Tại Kết luận giám định số 644/KL-KTHS ngày 07/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận mẫu tinh thể trong suốt chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,19330 gam, loại Methamphetamine. Theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thì: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:... c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; Quá trình điều tra và diễn biến tại phiên tòa đã chứng minh được lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi mua ma túy để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội, nhưng bị cáo vẫn mua về tàng trữ nhằm mục đích sử dụng, đây là nguồn gốc phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội khác, hậu quả bị cáo gây ra thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây dư luận xấu trong xã hội. Như vậy, hành vi của bị cáo là đủ yếu tố cấu thành “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng quy định pháp luật.
[4] Khi quyết định hình phạt Tòa án căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[4.1] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi mua ma túy để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội, nhưng bị cáo vẫn mua về tàng trữ nhằm mục đích sử dụng, đây là nguồn gốc phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội khác, hậu quả bị cáo gây ra thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây dư luận xấu trong xã hội và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện.
[4.2] Về tiền án, tiền sự, nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tiền án, không có tiền sự. Theo “Lý lịch bị can” và “ Thống kê tiền án, tiền sự” thì bị cáo đã từng phạm tội nhiều lần nên không được xem xét là có nhân thân tốt.
[4.3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4.4] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề xuất tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt là có căn cứ, tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo gây ra cho xã hội.
[4.5] Do đó, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc một mức án đủ để có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp nên không phạt tiền bị cáo.
[6] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
[6.1] Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng liên quan đến tội phạm: Tinh thể còn lại sau giám định và vỏ bao gói được niêm phong có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và chữ ký ghi tên Đặng Thị Phương L (người chứng kiến) và Lê Doãn V (Cơ quan điều tra); Một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 một ống hút bằng nhựa màu vàng, 01 ống thủy tinh phìn to một đầu, 01 chai nhựa nắp màu trắng.
[6.2] Tịch thu sung quỹ vật chứng liên quan đến tội phạm: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEL: 355177057415108 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEL: 35694803478751 đã qua sử dụng.
[6.3] Tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công huyện V trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda biển số 95X1-004.26; một căn cước công dân tên Lê Chí T3; tiền Việt Nam 220.000 đồng của Lê Chí T3 và tiền Việt Nam 500.000 đồng của Dương Thiết T.
[6.4] Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên đề xuất hướng xử lý vật chứng là có căn cứ.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu nên không xem xét xử lý.
[8] Đối với hành vi của Lê Chí T3 dùng xe mô tô chở Dương Thiết T đi mua ma túy. Tuy nhiên, quá trình điều tra và căn cứ tài liệu có trong hồ sơ không đủ căn cứ chứng minh Lê Chí T3 đồng phạm với Dương Thiết T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Hậu Giang không khởi tố đối với Lê Chí T3 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm với bị cáo Dương Thiết T là có căn cứ. Công an huyện V ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Chí T3 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định.
[9] Đối với Phạm Thanh H1 thừa nhận Dương Thiết T có đến nhà Phạm Thanh H1 để trả tiền mua gà nhưng Dương Thiết T không trả tiền sau đó ra về. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Phạm Thanh H1 và Dương Thiết T, qua đối chất Phạm Thanh H1 không thừa nhận bán ma túy cho Dương Thiết T, ngoài lời khai không có chứng cứ khác, nên không đủ căn cứ xử lý. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ.
[10] Đối với xe mô tô biển kiểm soát 95X1-00426 Lê Chí T3 điều khiển chở Dương Thiết T đi mua ma túy qua xác minh, xe mô tô trên do bà Ngô Thị Thanh T5, sinh năm 1971, thường trú: Ấp D, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang là mẹ ruột của Lê Chí T3 đứng tên chủ sở hữu có cho Lê Chí T3 mượn xe để đi làm, việc Lê Chí T3 chở Dương Thiết T đi mua ma túy thì bà Ngô Thị Thanh T5 không hay biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại phương tiện trên là có căn cứ.
[11] Đối với người phụ nữ tên T4 không rõ nhân thân, lý lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã tiến hành xác minh nhưng chưa có kết quả. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý sau.
[12] Đối với số điện thoại 0946.633.xxx do người phụ nữ tên T4 sử dụng. Căn cứ Công văn số 7580/VNPT-PCTT-TL ngày 13/10/2023 của Tập đoàn B xác định chủ thuê bao số điện thoại 0946.633.xxx là bà Phạm Thị T6, sinh ngày 01/01/1962, số CMND [...] có địa chỉ thường trú: Khóm G, Phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Qua làm việc, bà Phạm Thị T6 trình bày không sử dụng số điện thoại di động 0946.633.xxx và cũng không cho ai mượn giấy chứng minh nhân dân để đăng ký số điện thoại và bà Phạm Thị T6 không quen biết với người tên T4 nên không có căn cứ xem xét xử lý.
[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 329, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Dương Thiết Trung phạm “tội tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Dương Thiết T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 03/7/2023
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án.
- Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ: Tinh thể còn lại sau giám định và vỏ bao gói được niêm phong có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và chữ ký ghi tên Đặng Thị Phương L (người chứng kiến) và Lê Doãn V (Cơ quan điều tra); Một bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 một ống hút bằng nhựa màu vàng, 01 ống thủy tinh phìn to một đầu, 01 chai nhựa nắp màu trắng.
- Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEL: 355177057415108 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEL: 35694803478751 đã qua sử dụng.
Vật chứng đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, theo Quyết định chuyển vật chứng số 34/QĐ-VKS-HVT ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/12/2023 giữa Công an huyện V với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Dương Thiết T phải nộp số tiền là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM-HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Quyền Trân |
Quyết định số 44/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THUỶ, TỈNH HẬU GIANG về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số quyết định: 44/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THUỶ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma tuý
