|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST
Ngày 26 – 02 – 2025
V/v ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thái Thơ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Quyền
Ông Phạm Minh Giới
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 579/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân T, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở hiện nay: ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
Bị đơn: Ông Tạ H, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân T trình bày:
Nguyên đơn và bị đơn ông Tạ Hoàng Q tìm hiểu và đi đến hôn nhân từ ngày 02/8/2002 được Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng có 03 con chung là: Tạ Ngọc T1, sinh ngày 21/02/2003; Tạ Lan V sinh ngày 28/9/2005 và Tạ Thiện T2, sinh ngày 26/6/2014.
Trong quá trình sống chung, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bị đơn có tính gia trưởng, không hề chia sẽ việc nhà với nguyên đơn. Ngược lại xem nguyên đơn như người giúp việc không công, nếu làm việc nhà không vừa ý thì bị đơn lớn tiếng la mắng nguyên đơn. Bị đơn cũng can thiệp cả những việc cá nhân của nguyên đơn như quần áo, giày dép nguyên đơn cũng phải theo ý bị đơn. Nếu nguyên đơn có điều gì làm bị đơn không vừa ý bị đơn sẽ nói chuyện lớn tiếng, la hét, đập bàn ghế và các đồ vật trong tầm tay khiến cho bị đơn nhiều năm phải sống trong mệt mỏi, buồn bã và trầm cảm. Năm 2021 cảm thấy không chịu đựng nổi nên nguyên đơn có đề nghị ly hôn và bỏ nhà đi nhưng bị ông H hăm dọa khiến nguyên đơn sợ hãi, áp lực. Nhưng khi quay về ông H vẫn chứng nào tật nấy không thay đổi. Đến tháng 10/2023, nguyên đơn bỏ nhà qua P vì cảm thấy không muốn kéo dài cuộc hôn nhân này nữa. Bốn ngày sau ông H qua P tìm nguyên đơn chửi bới, la hét, hâm dọa nguyên đơn, có Công an xã D chứng kiến. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Xin được ly hôn với ông Tạ H; về con chung: có 03 con chung, hai con lớn Tạ Ngọc T1, Tạ Lan V đã hơn 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con nhỏ Tạ Thiện T2 đồng ý giao cho bị đơn nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, về nợ chung: không có, không cần Tòa giải quyết.
Bị đơn ông Tạ Hoàng T3 trình bày như sau:
Nguyên đơn và bị đơn cưới và sống chung với nhau năm 2002, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc và có được 03 đứa con chung tên là Tạ Ngọc T1, Tạ Lan V, Tạ Thiện T2.
Thời gian đầu cuộc sống hạnh phúc, nhưng từ cuối năm 2023 thì vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau như trước, từ đó vợ chồng thường xuyên kiếm chuyện gây tranh cãi gia đình, tình cảm vợ chồng ngày một phai nhạt, nên hôn nhân không còn hạnh phúc nên nguyên đơn và bị đơn sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay.
Nay xét thấy tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bị đơn yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết: Về quan hệ hôn nhân: Xin được ly hôn với bà Nguyễn Thị Xuân T Thùy; về con chung: Có 03 đứa con chung, sau khi ly hôn bị đơn tiếp tục nuôi con và không yêu cầu nguyên đơn cấp dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự đã bảo đảm để thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn, giao con chung cho bị đơn nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng do không có yêu cầu. Các vấn đề khác giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị Xuân T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và giải quyết việc nuôi con với ông Tạ Hoàng. Căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và điểm a khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[2] Về thẩm quyền xét xử: Bị đơn ông Tạ H có địa chỉ cư trú ở ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
[3] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt nguyên đơn.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Xuân T và ông Tạ Hoàng C đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Hậu Giang) và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 02/8/2002 nên quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp. Xét thấy, nguyên đơn yêu cầu ly hôn vì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn nên hôn nhân không hạnh phúc. Bị đơn cũng tự trình vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể sống chung và đồng ý ly hôn. Do vậy, có cơ sở để xác định mối quan hệ hôn nhân giữa các đương sự đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân nguyên đơn và bị đơn có 03 con chung là Tạ Ngọc T1, Tạ Lan V, Tạ Thiện T2. Trong đó, cháu Tạ Ngọc T1 và Tạ Lan V đã thành niên nên không xem xét. Đối với Tạ Thiện T2 cả nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất giao cho bị đơn nuôi dưỡng nên cần ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự.
[6] Về cấp dưỡng: Do bị đơn không yêu cầu nên Tòa án chưa xem xét.
[7] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[8] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Điều 19, Điều 21, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Xuân T được ly hôn với ông Tạ Hoàng.
- Về con chung: Con chung Tạ Ngọc T1, Tạ Lan V đã thành niên nên không xem xét, giải quyết. Ông Tạ H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Tạ Thiện T2, sinh ngày 26/6/2014. Bà Nguyễn Thị Xuân T chưa phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chưa có yêu cầu.
Bà Nguyễn Thị Xuân T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không xem xét, giải quyết do chưa có yêu cầu.
- Về án phí: Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Xuân T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007138 ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, bà Nguyễn Thị Xuân T không phải nộp thêm.
- Về quyền kháng cáo: Bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Hà Thái Thơ |
Quyết định số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG về ly hôn, nuôi con
- Số quyết định: 43/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
