TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43/2025/HNGĐ-ST. Ngày 23-5-2025. V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Như Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Lãm;
Bà Hà Thị Cẩm Tiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Bảo Việt - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Trần Hữu Nghĩa – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2025/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trương Thùy H, sinh năm 1994; địa chỉ: tổ A, khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh- vắng mặt có đơn xin.
Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh- Vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thùy H trình bày thể hiện trong hồ sơ:
Chị và anh T chung sống từ năm 2017, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh vào ngày 28 tháng 8 năm 2020. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại tại ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10-2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không chăm lo do gia đình, vợ chồng không còn tiếng nói chung và hay cãi nhau gây mất hạnh phúc gia đình. Sau khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn thì vợ chồng và cha mẹ hai bên không có nói chuyện hòa giải. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Chí T1, sinh ngày 12-8-2020 và Nguyễn Chí T2, sinh ngày 29-7-2023, hiện nay cháu T1, cháu T2 đang sống cùng chị; sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Nguyễn Anh T đã được Tòa án: Tống đạt thông báo thụ lý, triệu tập hợp lệ để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh T đều cố tình vắng mặt không có lý do và không nộp văn bản ý kiến cho Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thùy H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” đối với anh Nguyễn Anh T.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chí T1 và cháu Nguyễn Chí T2 cho chị Trương Thùy H chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.
- - Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
- Về tố tụng: Nguyên đơn chị H vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh T vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh T là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về hôn nhân: Chị H và anh T chung sống từ năm 2017, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh vào ngày 28 tháng 8 năm 2020. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại tại ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10-2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh T không chăm lo cho gia đình, vợ chồng bất đồng quan điểm tròn cuộc sống dẫn đến cãi vã nhau gây mất hạnh phúc gia đình. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh T đến làm việc nhưng anh đều vắng mặt không lý do, không cung cấp lời khai, không tham gia phiên hòa giải thể hiện anh T không có thiện chí đoàn tụ. Từ đây cho thấy mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị H yêu cầu ly hôn với anh T, nhận thấy có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung: Cháu Nguyễn Chí T1, sinh ngày 12-8-2020 và cháu Nguyễn Chí T2, sinh ngày 29-7-2023, hiện đang sống cùng chị H. Xét thấy, cháu T1 và cháu T2 hiện còn nhỏ cần có sự quan tâm, chăm sóc của mẹ và chị H cũng có yêu cầu được nuôi hai con. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy nên giao chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu T1, cháu T2 là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
- Về tài sản, nợ chung: Chị H, anh T không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Trương Thùy H đối với anh Nguyễn Anh T. Chị Trương Thùy H được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.
- Về con chung:
- - Giao cháu cháu Nguyễn Chí T1, sinh ngày 12-8-2020 và cháu Nguyễn Chí T2, sinh ngày 29-7-2023 cho chị Trương Thùy H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- - Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
- - Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị H đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012387 ngày 26-02-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng.(Chị H đã nộp đủ án phí).
- Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Như Thủy |
Quyết định số 43/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số quyết định: 43/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thị Thùy H ly hôn Nguyễn Anh T
