|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 426/2025/QĐST-HNGĐ |
Tuyên Quang, ngày 29 tháng 12 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 292/2025/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn X, xã H, tỉnh Tuyên Quang.
- Bị đơn: Anh Hà Hữu T, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn X, xã H, tỉnh Tuyên Quang.
Căn cứ Điều 212, 213 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 55, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 19 tháng 12 năm 2025.
XÉT THẤY
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 19 tháng 12 năm 2025 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH
1. Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa: Chị Trần Thị N và anh Hà Hữu T.
Giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 02/8/2005 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (nay là Ủy ban nhân dân H, tỉnh Tuyên Quang).
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về con chung: Chị Trần Thị N và anh Hà Hữu T xác định có 03 con chung là cháu Hà Hữu Q, sinh ngày 05/3/2007; cháu Hà Hữu C, sinh ngày 05/7/2010 và cháu Hà Thị C1, sinh ngày 26/02/2020.
Hiện tại cháu Hà Hữu Q đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Anh Hà Hữu T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Hữu C, sinh ngày 05/7/2010 và cháu Hà Thị C1, sinh ngày 26/02/2020.
Chị Trần Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Trần Thị N và anh Hà Hữu T xác định không đề nghị giải quyết.
- Về nợ chung: Chị Trần Thị N và anh Hà Hữu T xác định không đề nghị giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị N và anh Hà Hữu T thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn nộp khoản tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Lê Tuấn Linh |
Quyết định số 426/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TUYÊN QUANG về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 426/2025/QĐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa: Chị Trần Thị N và anh Hà Hữu T. Giấy chứng nhận kết hôn số 20 ngày 02/8/2005 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (nay là Ủy ban nhân dân H, tỉnh Tuyên Quang). 2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau: - Về con chung: Chị Trần Thị N và anh Hà Hữu T xác định có 03 con chung là cháu Hà Hữu Q, sinh ngày 05/3/2007; cháu Hà Hữu C, sinh ngày 05/7/2010 và cháu Hà Thị C1, sinh ngày 26/02/2020. Hiện tại cháu Hà Hữu Q đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Anh Hà Hữu T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hà Hữu C, sinh ngày 05/7/2010 và cháu Hà Thị C1, sinh ngày 26/02/2020. Chị Trần Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn không ai được cản trở. - Về tài sản chung: Chị Trần Thị N và anh Hà Hữu T xác định không đề nghị giải quyết. - Về nợ chung: Chị Trần Thị N và anh Hà Hữu T xác định không đề nghị giải quyết. - Về án phí: Chị Trần Thị N và anh Hà Hữu T thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn nộp khoản tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội.