|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 421/2023/QÐST-HNGĐ |
C, ngày 05 tháng 12 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Căn cứ Điều 212, Điều 213 và Điều 397 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 55, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 396/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình:
+ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1982; Địa chỉ: Số nhà E đường V, phường H, quận C, TP Đà Nẵng ;
+ Ông Thái Văn M, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu dân cư T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Thái Văn M và bà Nguyễn Thị H kết hôn với nhau vào năm 2017 có đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85/2007 ngày 08/5/2017). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, ông M, bà H chung sống tại Khu dân cư T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình chung sống đến năm 2020 thì ông bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình và quan điểm sống của vợ chồng không hòa hợp. Mặc dù vợ chồng và hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải nhưng vợ chồng không hòa hợp được. Từ năm 2021 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nhận thấy mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng nên ông M, bà H làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Quá trình thụ lý giải quyết Tòa án đã hòa giải để vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông M, bà H vẫn tiếp tục yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Xét thấy, ông Thái Văn M và bà Nguyễn Thị H đã thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận được với nhau về các vấn đề khác. Do đó, cần áp dụng Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của ông bà.
[2] Về con chung: Ông M, bà H xác nhận vợ chồng ông, bà có 02 con chung tên: Thái Minh N, sinh ngày 30/4/2008 và Thái Nhật L, sinh ngày 03/3/2013. Ly hôn vợ chồng ông M, bà H thống nhất thỏa thuận: Giao 02 con chung Thái Minh N, sinh ngày 30/4/2008 và Thái Nhật L, sinh ngày 03/3/2013 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Ông Thái Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Hai bên đương sự có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy ông M, bà H đã tự thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, phù hợp với nguyện vọng của các con chung, nên cần áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình công nhận thỏa thuận nuôi con chung của ông bà.
[3] Về tài sản chung: Ông M, bà H thống nhất xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về nợ chung: Ông M, bà H thống nhất xác định vợ chồng không có nợ chung.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập Biên bản hòa giải đoàn tụ không thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
- Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Ông Thái Văn M và bà Nguyễn Thị H thống nhất thuận tình ly hôn.
- - Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của ông Thái Văn M và bà Nguyễn Thị H về việc nuôi dưỡng con chung như sau:
Giao 02 con chung tên Thái Minh N, sinh ngày 30/4/2008 và Thái Nhật L, sinh ngày 03/3/2013 cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Ông Thái Văn M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung: Ông Thái Văn M và bà Nguyễn Thị H thống nhất xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Thái Văn M và bà Nguyễn Thị H thống nhất xác định vợ chồng không có nợ chung.
- Về lệ phí Tòa án: Lệ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ông Thái Văn M và bà Nguyễn Thị H tự nguyện chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng mà ông M, bà H đã nộp theo biên lai thu số 0002725 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (biên lai nộp tiền tạm ứng lệ phí trên hệ thống dịch vụ công quốc gia số [...] ngày 09/11/2023). Như vậy, ông M, bà H đã nộp đủ lệ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN Phan Văn Cương |
Quyết định số 421/2023/QÐST-HNGĐ ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 421/2023/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quyết định công nhận thuận tình ly hôn Nguyễn Thị H, Thái Văn M
