Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 419/2024/DS-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Như Nhiên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Đỗ Thị A.
  2. Ông Lưu Đức Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Phan Trần Vĩnh Phúc - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 và ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 407/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 358/2023/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 154/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 và Thông báo dời lại phiên toà số 407.3/2024/TB-TA ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng N.

Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Phạm Toàn V.

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn:

Ông Phạm Văn C, sinh năm 1994 (đề nghị Toà án xét xử vắng mặt).

Địa chỉ chi nhánh: Số A đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(theo Quyết định uỷ quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01 tháng 12 năm 2022 của ông Phạm Toàn V là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng N; Giấy uỷ quyền số 964/GUQ-NHNo.LTK-KTNB và Giấy uỷ quyền số 957/GUQ-NHNo.LTK-KTNB cùng ngày 21 tháng 6 năm 2023 của bà Nguyễn Thị Đ là người đại diện hợp pháp theo Quyết định uỷ quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01 tháng 12 năm 2022).

- Bị đơn:

  1. Ông Trần Thanh T, sinh năm 1987 (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Số F đường L, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1967 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Số A đường B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trương Xuân Tân T2, sinh năm 1978 (vắng mặt).
  2. Địa chỉ: Số B đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bà Trần Thị Thanh T3, sinh năm 1990 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Số B đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/6/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn Ngân hàng N (sau đây gọi tắt là A) trình bày về việc thoả thuận ký kết các hợp đồng tín dụng với các bị đơn như sau:

1. Đối với bị đơn ông Trần Thanh T:

A - Chi nhánh L và ông Trần Thanh T ký kết Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200912 ngày 03/10/2022, nội dung cơ bản trong hợp đồng như sau:

  • Số tiền cho vay: 2.000.000.000 đồng;
  • Phương thức cho vay: Cho vay từng lần (ngày 04/10/2022 giải ngân số tiền 1.600.000.000 đồng theo Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ có số giải ngân là 1603-LDS-202201908 và ngày 30/11/2022 giải ngân số tiền 150.000.000 đồng theo Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ có số giải ngân là 1603-LDS-202202325).
  • Thời hạn vay: 12 tháng;
  • Mục đích sử dụng tiền vay: Bù đắp thanh toán tiền mua nhà ở.
  • Lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng là 10,5%/năm; Lãi suất đã điều chỉnh là 11,5%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả: 10%/ năm;
  • Tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Thửa đất số 796, tờ bản đồ số 48, phường T, Quận A thuộc quyền sử dụng của bà Trần Thị Thanh T3, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BL 189914, số vào số cấp GCN: CH 04118 do Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp ngày 11/9/2012, cập nhật biến động chuyển nhượng ngày 30/3/2018, theo Hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-20200780 ngày 03/10/2022, số công chứng 04858, quyển số 10/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được chứng nhận tại Văn phòng C1; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 03/10/2022.

2. Đối với bị đơn bà Trần Thị T1:

A - Chi nhánh L và bà Trần Thị T1 ký kết Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200913 ngày 03/10/2022, nội dung cơ bản trong hợp đồng như sau:

  • Số tiền cho vay: 2.000.000.000 đồng;
  • Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ có số giải ngân: 1603LDS202201907 ngày 04/10/2022 giải ngân số tiền 2.000.000.000 đồng.
  • Thời hạn vay: 12 tháng;
  • Mục đích sử dụng tiền vay: Bù đắp thanh toán tiền mua đất ở.
  • Lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng là 10,5%/năm; Lãi suất đã điều chỉnh là 11,5%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả: 10%/ năm;
  • Tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Thửa đất số 796, tờ bản đồ số 48, phường T, Quận A thuộc quyền sử dụng của bà Trần Thị Thanh T3, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BL 189914, số vào sổ cấp GCN: CH 04118 do Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp ngày 11/9/2012, cập nhật biến động chuyển nhượng ngày 30/3/2018, theo Hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-20200781 ngày 03/10/2022, số công chứng 04859, quyển số 10/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được chứng nhận tại Văn phòng C1; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 03/10/2022.

Do ông Trần Thanh T và bà Trần Thị T1 đã vi phạm cam kết trả nợ trong hợp đồng tín dụng với A - chi nhánh L, nên số nợ của ông Trần Thanh T đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 04/10/2023 và số nợ của bà Trần Thị T1 đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 05/10/2023. Nay, nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau:

  1. Buộc ông Trần Thanh T thanh toán cho Ngân hàng N các khoản tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200912 ngày 03 tháng 10 năm 2022 tạm tính đến ngày 23 tháng 9 năm 2024, cụ thể như sau:
    • + Tiền nợ phát sinh từ Giấy nhận nợ có số giải ngân 1603-LDS-202201908 ngày 04/10/2022 tổng cộng là 1.989.853.688 đồng (Trong đó bao gồm: nợ gốc là 1.595.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 318.231.164 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.164.897 đồng, tiền lãi chậm trả là 7.457.627 đồng).
    • + Tiền nợ phát sinh từ Giấy nhận nợ có số giải ngân 1603-LDS-202202325 ngày 30/11/2022 tổng cộng là 184.981.413 đồng (Trong đó bao gồm: nợ gốc là 150.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 27.390.411 đồng, tiền lãi quá hạn là 6.492.123 đồng, tiền lãi chậm trả là 1.098.879 đồng).
  2. Buộc bà Trần Thị Thu thanh T4 cho Ngân hàng N tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200913 ngày 03 tháng 10 năm 2022; Giấy nhận nợ có số giải ngân: 1603LDS202201907 ngày 04 tháng 10 năm 2022 tạm tính đến ngày 23 tháng 9 năm 2024, tổng cộng là 2.490.941.660 đồng (Trong đó bao gồm: nợ gốc là 1.995.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 397.831.164 đồng, tiền lãi quá hạn là 86.203.253 đồng, tiền lãi chậm trả là 11.907.243 đồng).
  3. Trường hợp ông Trần Thanh T và bà Trần Thị T1 không thanh toán hoặc thanh toán nhưng không đầy đủ số nợ nêu trên, thì ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Thửa đất số 796, tờ bản đồ số 48, phường T, Quận A thuộc quyền sử dụng của bà Trần Thị Thanh T3, theo các hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.

Bị đơn ông Trần Thanh T, bà Trần Thị T1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thanh T3 đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; đồng thời, triệu tập bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến Tòa để trình bày ý kiến đối với yêu cầu của người khỏi kiện và để hòa giải nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng, không có bản khai và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Xuân Tân T2 là chồng của bà Trần Thị Thanh T3 vắng mặt tại phiên toà, nhưng có gửi đến Toà án nhân dân Quận 10 Bản tự khai trình bày ý kiến như sau:

Xác nhận ông có cùng với bà Trần Thị Thanh T3 ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Thửa đất số 796, tờ bản đồ số 48, phường T, Quận A do bà Trần Thị Thanh T3 đứng tên trên giấy chứng nhận, để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của ông Trần Thanh T đối với khoản vay của Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200912 ngày 03/10/2022. Nay ông T vi phạm cam kết trả nợ cho ngân hàng, ông T2 đồng ý nguyên đơn phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Ngoài ra, ông T2 không có ý kiến nào khác đối với khoản vay của bà Trần Thị T1, ông T2 cũng không có yêu cầu độc lập trong vụ án.

Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh:

  • - Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, ra Thông báo thụ lý vụ án đúng pháp luật, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Thẩm phán ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng những quy định về thủ tục tố tụng.
  • - Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Toà án nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp:

Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N yêu cầu các bị đơn ông Trần Thanh T và bà Trần Thị T1 trả số tiền nợ còn thiếu phát sinh từ hợp đồng tín dụng, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự. Xét, nguyên đơn có địa chỉ chi nhánh tại Quận A và tranh chấp giữa hai bên phát sinh từ hoạt động của chi nhánh, nên trên cơ sở yêu cầu của nguyên đơn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về tư cách tham gia tố tụng và xét xử vụ án vắng mặt đương sự:

Căn cứ Quyết định uỷ quyền thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01 tháng 12 năm 2022 của ông Phạm Toàn V là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng N; Giấy uỷ quyền số 964/GUQ-NHNo.LTK-KTNB và Giấy uỷ quyền số 957/GUQ-NHNo.LTK-KTNB cùng ngày 21 tháng 6 năm 2023 của bà Nguyễn Thị Đ là người đại diện hợp pháp theo Quyết định uỷ quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01 tháng 12 năm 2022, thì ông Phạm Văn C được đại diện nguyên đơn là Ngân hàng N tham gia tố tụng.

Xét, bị đơn ông Trần Thanh T, bà Trần Thị T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trương Xuân Tân T2, bà Trần Thị Thanh T3 đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt; ông Phạm Văn C là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Ngân hàng N có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2]. Về yêu cầu của nguyên đơn:

[2.1] Xét, các Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200912 và Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200913 cùng ngày 03/10/2022 giữa A - Chi nhánh L với ông Trần Thanh T, bà Trần Thị T1 được giao kết trên sự tự nguyện, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên hợp đồng đã phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

[2.2] Về tiền nợ gốc:

Xét lời khai của nguyên đơn về việc ông Trần Thanh T còn nợ số tiền gốc là 1.745.000.000 đồng và bà Trần Thị T1 còn nợ số tiền gốc là 1.995.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tại khoản 2 Điều 91 và Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản. Một bên đương sự không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Xét thấy bị đơn đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, trong đó có ghi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn nộp cho Tòa án, nhưng bị đơn không nộp cho Tòa án văn bản thể hiện sự phản đối của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, cũng như không có văn bản trình bày về số tiền nợ gốc, nợ lãi đã thanh toán, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200912 và Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200913 cùng ngày 03/10/2022 giữa A - Chi nhánh L với ông Trần Thanh T, bà Trần Thị T1; các báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ; các bảng sao kê và các Thông báo của ngân hàng do nguyên đơn nộp cho Tòa án, chấp nhận lời khai của nguyên đơn về số tiền nợ gốc mà bị đơn còn nợ.

[2.3] Về tiền lãi :

Theo khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng”. Xét thấy ông Trần Thanh T, bà Trần Thị T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ dẫn đến nợ quá hạn, nên ngày 04/10/2023, ngân hàng chuyển khoản vay của ông T sang nợ quá hạn và ngày 05/10/2023, ngân hàng chuyển khoản vay của bà T1 sang nợ quá hạn là có cơ sở chấp nhận.

Theo khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Xét thấy, các bên thỏa thuận lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200912 và Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200913 cùng ngày 03/10/2022 là không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ bảng kê tính lãi đến ngày 23/9/2024 do nguyên đơn nộp cho Toà án, xác định ông Trần Thanh T và bà Trần Thị T1 còn nợ ngân hàng các khoản tiền lãi như nguyên đơn trình bày.

[2.4] Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

Căn cứ Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Buộc ông Trần Thanh T thanh toán cho Ngân hàng N các khoản tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200912 ngày 03 tháng 10 năm 2022 và các giấy nhận nợ kèm theo hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 23 tháng 9 năm 2024, cụ thể như sau:

  • + Tiền nợ phát sinh từ Giấy nhận nợ có số giải ngân 1603-LDS-202201908 ngày 04/10/2022 tổng cộng là 1.989.853.688 đồng (Trong đó bao gồm: nợ gốc là 1.595.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 318.231.164 đồng, tiền lãi quá hạn là 69.164.897 đồng, tiền lãi chậm trả là 7.457.627 đồng).
  • + Tiền nợ phát sinh từ Giấy nhận nợ có số giải ngân 1603-LDS-202202325 ngày 30/11/2022 tổng cộng là 184.981.413 đồng (Trong đó bao gồm: nợ gốc là 150.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 27.390.411 đồng, tiền lãi quá hạn là 6.492.123 đồng, tiền lãi chậm trả là 1.098.879 đồng).

2. Buộc bà Trần Thị Thu thanh T4 cho Ngân hàng N tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200913 ngày 03 tháng 10 năm 2022; Giấy nhận nợ có số giải ngân: 1603LDS202201907 ngày 04 tháng 10 năm 2022 tạm tính đến ngày 23 tháng 9 năm 2024, tổng cộng là 2.490.941.660 đồng (Trong đó bao gồm: nợ gốc là 1.995.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 397.831.164 đồng, tiền lãi quá hạn là 86.203.253 đồng, tiền lãi chậm trả là 11.907.243 đồng).

Căn cứ điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, thì kể từ ngày 24/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

[2.5] Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn:

Theo Công văn số 24808/CNQ12-LT ngày 27/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 thì tài sản thế chấp có tình trạng pháp lý như sau: Thửa đất số 796, tờ bản đồ số 48 (tài liệu 2005), phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh do Ủy ban nhân dân Quận A1 ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH04118 ngày 11/9/2012. Đăng ký thay đổi chủ sử dụng cho bà Trần Thị Thanh T3 theo hồ sơ số 017295.CN.003 ngày 30/3/2018 của Chi nhánh Văn phòng Đ1. Xét, Hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-20200780 ngày 03/10/2022, số công chứng 04858, quyển số 10/2022 TP/CC-SCC/HĐGD và Hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-20200781 ngày 03/10/2022, số công chứng 04859, quyển số 10/2022 TP/CC-SCC/HĐGD công chứng tại Văn phòng C1 được giao kết trên sự tự nguyện, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật; giao dịch thế chấp có đăng ký giao dịch bảo đảm, nên các hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật.

Theo khoản 2 Điều 2 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 1603-LCP-202200780 ngày 03/10/2022 giữa Bên nhận thế chấp là A chi nhánh L với Bên thế chấp là bà Trần Thị Thanh T3 và người có nghĩa vụ được bảo đảm là ông Trần Thanh T quy định nghĩa vụ và phạm vi bảo đảm như sau:

“Bên B (bà Trần Thị Thanh T3) tự nguyện đem tài sản bảo đảm nêu tại Điều 1 thế chấp cho Bên A (A chi nhánh L) để đảm bảo cho tất cả các nghĩa vụ trả nợ bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả, các khoản phí và chi phí khác phát sinh liên quan của Người có nghĩa vụ được bảo đảm tại các Hợp đồng cấp tín dụng ký trước, trong và sau thời điểm ký hợp đồng này với Bên A, trong số tiền nợ gốc là: 2.000.000.000 đồng của Bên được bảo đảm (Bên vay vốn)”.

Theo Điều 2 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 1603-LCP-202200781 ngày 03/10/2022 giữa Bên nhận thế chấp là A chi nhánh L với Bên thế chấp là bà Trần Thị Thanh T3 và người có nghĩa vụ được bảo đảm là bà Trần Thị T1 quy định nghĩa vụ và phạm vi bảo đảm như sau:

“Bên B (bà Trần Thị Thanh T3) tự nguyện đem tài sản bảo đảm nêu tại Điều 1 thế chấp cho Bên A (A chi nhánh L) để đảm bảo cho tất cả các nghĩa vụ trả nợ bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả, các khoản phí và chi phí khác phát sinh liên quan của Người có nghĩa vụ được bảo đảm tại các Hợp đồng cấp tín dụng ký trước, trong và sau thời điểm ký hợp đồng này với Bên A, trong số tiền nợ gốc là: 2.000.000.000 đồng của Người có nghĩa vụ bảo đảm tại Bên A là bà Trần Thị T1”.

Theo khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Dân sự quy định về việc xử lý tài sản bảo đảm, theo đó: “đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ“.

Theo khoản 7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự quy định bên nhận thế chấp có quyền: “xử lý tài sản thế chấp khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ Luật này".

Xét thấy, kể từ ngày giải ngân đến nay, ông Trần Thanh T, bà Trần Thị T1 không thực hiện nghĩa vụ đầy đủ đối với Ngân hàng N đã làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Nay nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ đối với ông Trần Thanh T có dư nợ gốc là 1.745.000.000 đồng cùng với các khoản tiền lãi và thu hồi nợ đối với bà Trần Thị T1 có dư nợ gốc là 1.995.000.000 đồng cùng với các khoản tiền lãi là trong phạm vi bảo đảm được quy định trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 1603-LCP-202200780 ngày 03/10/2022 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 1603-LCP-202200781 ngày 03/10/2022, nên việc nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của Thửa đất số 796, tờ bản đồ số 48, phường T, Quận A để thu hồi nợ là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về chi phí tố tụng:

Chi phí tố tụng về việc xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng.

Theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận”. Do yêu cầu của nguyên đơn được Toà án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

Theo khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự: “Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quyết định của Tòa án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ”. Do nguyên đơn đã tạm nộp số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 đồng, nên các bị đơn ông Trần Thanh T và bà Trần Thị T1, mỗi người có trách nhiệm hoàn trả số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng cho nguyên đơn.

[4]. Án phí dân sự sơ thẩm:

Xét, yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40; khoản 2 Điều 91; Điều 92; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 158; khoản 1 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 299; khoản 7 Điều 323; khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự,
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng,
  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 6 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử :

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn :

1.1. Buộc ông Trần Thanh T thanh toán cho Ngân hàng N các khoản tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200912 ngày 03 tháng 10 năm 2022 và các giấy nhận nợ kèm theo hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 23 tháng 9 năm 2024, cụ thể như sau:

  • + Tiền nợ phát sinh từ Giấy nhận nợ có số giải ngân 1603-LDS-202201908 ngày 04 tháng 10 năm 2022, tổng cộng là 1.989.853.688 (một tỷ, chín trăm tám mươi chín triệu, tám trăm năm mươi ba nghìn, sáu trăm tám mươi tám) đồng [Trong đó bao gồm: nợ gốc là 1.595.000.000 (một tỷ, năm trăm chín mươi lăm triệu) đồng, nợ lãi trong hạn là 318.231.164 (ba trăm mười tám triệu, hai trăm ba mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi bốn) đồng, tiền lãi quá hạn là 69.164.897 (sáu mươi chín triệu, một trăm sáu mươi bốn nghìn, tám trăm chín mươi bảy) đồng, tiền lãi chậm trả là 7.457.627 (bảy triệu, bốn trăm năm mươi bảy nghìn, sáu trăm hai mươi bảy) đồng].
  • + Tiền nợ phát sinh từ Giấy nhận nợ có số giải ngân 1603-LDS-202202325 ngày 30 tháng 11 năm 2022, tổng cộng là 184.981.413 (một trăm tám mươi bốn triệu, chín trăm tám mươi mốt nghìn, bốn trăm mười ba) đồng [Trong đó bao gồm: nợ gốc là 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng, nợ lãi trong hạn là 27.390.411 (hai mươi bảy triệu, ba trăm chín mươi nghìn, bốn trăm mười một) đồng, tiền lãi quá hạn là 6.492.123 (sáu triệu, bốn trăm chín mươi hai nghìn, một trăm hai mươi ba) đồng, tiền lãi chậm trả là 1.098.879 (một triệu, chín mươi tám nghìn, tám trăm bảy mươi chín) đồng].

1.2. Buộc bà Trần Thị Thu thanh T4 cho Ngân hàng N tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200913 ngày 03 tháng 10 năm 2022 và Giấy nhận nợ có số giải ngân: 1603-LDS-202201907 ngày 04 tháng 10 năm 2022 tạm tính đến ngày 23 tháng 9 năm 2024, tổng cộng là 2.490.941.660 (hai tỷ, bốn trăm chín mươi triệu, chín trăm bốn mươi mốt nghìn, sáu trăm sáu mươi) đồng [Trong đó bao gồm: nợ gốc là 1.995.000.000 (một tỷ, chín trăm chín mươi lăm triệu) đồng, nợ lãi trong hạn là 397.831.164 (ba trăm chín mươi bảy triệu, tám trăm ba mươi mốt nghìn, một trăm sáu mươi bốn) đồng, tiền lãi quá hạn là 86.203.253 (tám mươi sáu triệu, hai trăm lẻ ba nghìn, hai trăm năm mươi ba) đồng, tiền lãi chậm trả là 11.907.243 (mười một triệu, chín trăm lẻ bảy nghìn, hai trăm bốn mươi ba) đồng].

1.3. Kể từ ngày 24 tháng 9 năm 2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Trần Thanh T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200912 ngày 03 tháng 10 năm 2022; Giấy nhận nợ có số giải ngân là 1603-LDS-202201908 ngày 04 tháng 10 năm 2022 và Giấy nhận nợ có số giải ngân là 1603-LDS-202202325 ngày 30 tháng 11 năm 2022; bà Trần Thị T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202200913 ngày 03 tháng 10 năm 2022 và Giấy nhận nợ có số giải ngân là: 1603-LDS-202201907 ngày 04 tháng 10 năm 2022.

Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng N thì lãi suất mà ông Trần Thanh T, bà Trần Thị T1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng N theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng N.

1.4. Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

1.5. Sau khi ông Trần Thanh T, bà Trần Thị Thu thanh T4 hết số nợ trên, Ngân hàng N có trách nhiệm làm thủ tục giải chấp tài sản bảo đảm đã thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Thửa đất số 796, tờ bản đồ số 48, phường T, Quận A, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BL 189914, số vào sổ cấp GCN: CH 04118 do Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp ngày 11/9/2012, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Trần Thị Thanh T3 ngày 30/3/2018, theo Hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-20200780 ngày 03/10/2022, số công chứng 04858, quyển số 10/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được chứng nhận tại Văn phòng C1; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 03/10/2022 và Hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-20200781 ngày 03/10/2022, số công chứng 04859, quyển số 10/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được chứng nhận tại Văn phòng C1; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 03/10/2022.

1.6. Trường hợp ông Trần Thanh T, bà Trần Thị T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ nêu trên, thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm đã thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Thửa đất số 796, tờ bản đồ số 48, phường T, Quận A, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BL 189914, số vào sổ cấp GCN: CH 04118 do Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp ngày 11/9/2012, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Trần Thị Thanh T3 ngày 30/3/2018, theo Hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-20200780 ngày 03/10/2022, số công chứng 04858, quyển số 10/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được chứng nhận tại Văn phòng C1; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 03/10/2022 và Hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-20200781 ngày 03/10/2022, số công chứng 04859, quyển số 10/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được chứng nhận tại Văn phòng C1; Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 03/10/2022.

Sau khi trừ đi các khoản chi phí theo quy định của pháp luật, số tiền phát mãi được dùng để thanh toán cho Ngân hàng N, nếu không đủ thì ông Trần Thanh T, bà Trần Thị T1 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn thiếu cho Ngân hàng N cho đến khi hết nợ.

2. Chi phí tố tụng về việc xem xét, thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (mười triệu) đồng: Ông Trần Thanh T, bà Trần Thị T1, mỗi người có trách nhiệm hoàn trả số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 (năm triệu) đồng cho Ngân hàng N.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Trần Thanh T chịu án phí dân sự sơ thẩm là 75.496.702 (bảy mươi lăm triệu, bốn trăm chín mươi sáu nghìn, bảy trăm lẻ hai) đồng.

Bà Trần Thị T1 chịu án phí dân sự sơ thẩm là 81.818.833 (tám mươi mốt triệu, tám trăm mười tám nghìn, tám trăm ba mươi ba) đồng.

Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng N được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 34.316.116 (ba mươi bốn triệu, ba trăm mười sáu nghìn, một trăm mười sáu) đồng, theo biên lai thu tiền số 0035554 và 37.602.958 (ba mươi bảy triệu, sáu trăm lẻ hai nghìn, chín trăm năm mươi tám) đồng, theo biên lai thu tiền số 0035555 cùng ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - VKSND Q.10;
  • - Chi cục THADS Q.10;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu VP, hồ sơ.

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Như Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 419/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số quyết định: 419/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger