Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN LẠC

TỈNH VĨNH PHÚC


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 30 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Đoan

Ông Hoàng Văn Khảm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST - HS ngày 17 tháng 4 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Vũ Thị C, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1962 tại thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn C1 và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); có chồng thứ nhất là Vũ Văn L (đã chết), chồng thứ hai là Nguyễn Văn K, sinh năm 1938 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/01/2024 đến ngày 30/01/2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và T1 hoãn xuất cảnh từ ngày 30/01/2024, hiện đang tại ngoại tại địa phương, “có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm C, xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/01/2024, Vũ Thị C, sinh năm 1962, trú tại TDP T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đang ở nhà tại địa chỉ trên thì có chị Bùi Thị H, sinh năm 1983, trú tại xã K, huyện K, tỉnh Hòa Bình đến hỏi C cho mượn địa điểm tại nhà ở của C để bán dâm thì C đồng ý và sắp xếp cho chị H ngủ tại phòng ngủ trong gian nhà cấp 4 của C để khi nào có khách mua dâm thì C sẽ bố trí cho chị H bán dâm tại phòng ngủ đó luôn. Cần và chị H thống nhất với nhau giá bán dâm là 150.000 đồng/01 lần, C sẽ được hưởng 50.000 đồng, chị H sẽ được hưởng 100.000 đồng. Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 22/01/2024, anh Nguyễn Văn L1, sinh năm1999, anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1967 và anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1992, đều trú tại thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc biết về việc Cần cho khách mua bán dâm tại nhà nên tìm đến với mục đích mua dâm. Tuy nhiên, chỉ có anh L1, anh H1 thỏa thuận với C về việc mua dâm, anh H2 đi cùng nhưng không thỏa thuận việc mua dâm. Lúc này, chị H đang ở trong phòng ngủ nhà Cần. Cần nói giá tiền là 150.000 đồng/01 lần/01 người thì anh L1, anh H1 đồng ý, mỗi người lấy ra 200.000 đồng tiền mặt đưa cho C để được mua dâm (mỗi người đưa thêm cho Cần 50.000 đồng. Sau đó, anh L1 vào trong phòng ngủ mua dâm trước, anh H1, anh H2 ngồi chờ bên ngoài. Khi vào trong phòng ngủ, anh L1 thấy chị H đang ở một mình, cả hai tự cởi quần áo, chị H lấy 01 gói bao cao su, xé vỏ rồi đeo bao cao su vào dương vật cho anh L1 để thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Khi anh L1 và chị H quan hệ tình dục được khoảng 03 phút thì đúng lúc này có Tổ công tác Công an huyện Y đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Vũ Thị C có hành vi chứa mại dâm và lập biên bản, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định. Tang vật thu giữ gồm:

  • Thu giữ 10 bao cao su còn nguyên, chưa sử dụng tại vị trí đầu giường nơi Nguyễn Văn L1 và Bùi Thị H quan hệ tình dục, bao cao su màu bạc, mặt ngoài trên bao bì in nhiều chữ nước ngoài.
  • Thu giữ 01 vỏ bao cao su màu bạc; mặt ngoài trên bao bì in nhiều chữ nước ngoài và 01 lõi bao cao su, đều đã qua sử dụng.
  • Thu giữ số tiền 400.000 đồng trên người Vũ Thị C.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Y tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Thị C. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Thị C khai nhận: Từ khoảng tháng 12/2023, do không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên C để phòng ngủ trong gian nhà cấp 4 của C cho gái bán dâm và khách mua dâm mượn địa điểm để thực hiện hành vi mua bán dâm, mục đích để hưởng lợi bất chính. Cần thỏa thuận với khách mua dâm giá mua dâm là 150.000 đồng/01 lượt/01 người, trong đó C được hưởng 50.000 đồng. Có một số người đã đến thực hiện hành vi mua bán dâm tại nhà C nhưng C không nhớ chính xác ngày tháng và thông tin của những người này, cũng không nhớ bản thân đã thu được bao nhiêu tiền từ việc này nên không có căn cứ để xử lý Cần đối với những lần nêu trên. Ngày 22/01/2024 là lần đầu tiên chị H bán dâm tại nhà ở của C.

Tại Cáo trạng số 33/CT - VKSYL ngày 17 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố Vũ Thị C về tội “Chứa mại dâm”, theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự.

2

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vũ Thị C về tội “Chứa mại dâm” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 10 bao cao su còn nguyên, chưa sử dụng; 01 vỏ bao cao su màu bạc, mặt ngoài trên bao bì in nhiều chữ nước ngoài và 01 lõi bao cao su, đều đã qua sử dụng.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng là tiền mà C thu được do thực hiện hành vi phạm tội mà có.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra trình bày và xác nhận lời trình bày của bị cáo C về việc chứa mại dâm là đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Vũ Thị C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo khai nhận như sau: Ngày 20/01/2024, chị Bùi Thị H đến hỏi C cho mượn địa điểm tại nhà ở của C để bán dâm thì C đồng ý và sắp xếp cho chị H ngủ tại phòng ngủ trong gian nhà cấp 4 của C ở TDP T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để khi nào có khách mua dâm thì C sẽ bố trí cho chị H bán dâm tại phòng ngủ đó luôn. Khoảng 15 giờ 35 phút ngày 22/01/2024, C trực tiếp giao dịch và thu 400.000 đồng của Nguyễn Văn L1 và Nguyễn Văn H1 để Bùi Thị H bán dâm cho L1 và H1 tại phòng ngủ trong gian nhà cấp 4 của C. L1 vào trong phòng ngủ mua dâm trước, H1 ngồi chờ bên ngoài. Khi L1 và H đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Tổ công tác Công an huyện Y đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

3

Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để khẳng định hành vi của bị cáo C dùng phòng ngủ của mình để cho đối tượng bán dâm là Bùi Thị H bán dâm cho Nguyễn Văn L1 đã phạm vào tội “Chứa mại dâm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

Nội dung Điều luật quy định:

“1. Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”...

[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, đạo đức xã hội và nếp sống văn minh của địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, xâm phạm đến thuần phong, mỹ tục của dân tộc, là nguyên nhân của nhiều căn bệnh xã hội khác. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Vũ Thị C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đó là: Bị cáo có chồng là Nguyễn Văn K được tặng thưởng Huy chương chiến thắng hạng Nhì. Mặt khác, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, chồng thứ nhất của bị cáo đã chết, hiện tại bị cáo đang phải nuôi người chồng thứ hai già yếu, không có khả năng lao động, giữa bị cáo và người chồng thứ hai không có con chung, bị cáo tuy tuổi đã cao nhưng là lao động chính, duy nhất trong gia đình. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục với mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa làm rõ, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Bản thân bị cáo không đứng tên cá nhân tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 327 của Bộ luật Hình sự.

4

[6] Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 10 bao cao su còn nguyên, chưa sử dụng; 01 vỏ bao cao su màu bạc, mặt ngoài trên bao bì in nhiều chữ nước ngoài và 01 lõi bao cao su, đều đã qua sử dụng.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng là tiền mà C thu được do thực hiện hành vi phạm tội mà có.

[7] Đối với những lần Vũ Thị C đã cho mượn địa điểm để một số người khác đến thực hiện hành vi mua bán dâm tại nhà C vào khoảng thời gian trước đó, ngoài lời khai của C thì không có tài liệu gì khác chứng minh hành vi vi phạm của C nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Bùi Thị H: Công an huyện Y đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 50/QĐ - XPHC ngày 25/3/2024 đối với H về hành vi bán dâm với mức phạt tiền 400.000 đồng là phù hợp.

Đối với ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1938, trú tại thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (là chồng của C). Quá trình điều tra xác định, khi C thực hiện hành vi chứa mại dâm tại nhà của mình, thì C không nói, ông K không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với 03 đối tượng tự khai là Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn H2 đều ở TDP B, thị trấn H, huyện T,tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi khai báo và viết bản tự khai các đối tượng đã được Cơ quan điều tra cho về địa phương, sau đó Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập đến làm việc nhưng không triệu tập được. Cơ quan điều tra đã xác minh nhân thân, lai lịch theo lời khai của Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Văn H2, nhưng không xác định được đối tượng có lai lịch như trên, do vậy Cơ quan điều tra chưa đề cập xử lý.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Vũ Thị C phạm tội “Chứa mại dâm”.

Căn cứ khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Vũ Thị C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Thị C cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 10 bao cao su còn nguyên, chưa sử dụng; 01 vỏ bao cao su màu bạc, mặt ngoài trên bao bì in nhiều chữ nước ngoài và 01 lõi bao cao su, đều đã qua sử dụng.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng.

(Toàn bộ vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc lập ngày 23 tháng 4 năm 2024).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Thị C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo đối với phần nội dung Bản án có liên quan đến quyền và lợi ích của mình.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Yên Lạc;
  • - Cơ quan CSĐT - CA huyện Yên Lạc;
  • - Cơ quan THAHS - CA huyện Yên Lạc;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Lạc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Thanh Mai

6

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Văn Đoan

Hoàng Văn Khảm

Phan Thị Thanh Mai

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 41/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (chứa mại dâm)

  • Số quyết định: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chứa mại dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HSST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger