Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST

Ngày 11-9-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thiện.

Bà Mai Thị Duyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nông Ka T; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã K, huyện T; nơi ở hiện tại: Số B Lô I, Tổ dân phố số A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Phạm Văn K; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã K, huyện T; nơi ở hiện tại: Số B Lô I, Tổ dân phố số A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/02/2024 và bản tự khai nguyên đơn chị Nông Ka T trình bày:

Năm 2014, chị và anh Phạm Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, gia đình hai bên có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán Việt Nam, có đăng ký kết hôn ngày 14 tháng 5 năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến cuối tháng 5 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống, vợ chồng không còn hòa hợp trong mọi mặt cuộc sống, anh K thường xuyên đi công tác, không quan tâm, chăm sóc vợ con. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng và trầm trọng. Từ đó, cho đến nay hai người sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm, kinh tế. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình phân tích hòa giải nhưng không có kết quả. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn K.

- Về con chung: Chị và anh Phạm Văn K có hai con chung là Phạm Thanh T1, sinh ngày 29/4/2019 và Phạm Thủy T2, sinh ngày 19/10/2021. Khi ly hôn, chị đề nghị được nuôi dưỡng cả hai con. Vì từ khi anh, chị ly thân hai con vẫn ở cùng chị và công việc chị bán tạp hóa tại nhà có nhiều thời gian chăm sóc các con hơn; còn anh K thường xuyên đi công tác xa nhà, không có thời gian, điều kiện chăm sóc các con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị Nông Ka T không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Văn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Phạm Văn K vắng mặt, không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và không lấy được lời khai của anh Phạm Văn K.

* Tòa án đã thu thập chứng cứ tại địa phương cũng như gia đình chị T, anh K và thể hiện: Về nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống. Hiện tại chị T và anh K đã sống ly thân không còn quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Nay chị T có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật; về con chung: Chị T và anh K có hai con chung là Phạm Thanh T1, sinh ngày 29/4/2019 và Phạm Thủy T2, sinh ngày 19/10/2021. Địa phương đề nghị Tòa án căn cứ giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Địa phương, cũng như gia đình không có ý kiến gì.

* Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nông Ka T vắng mặt nhưng đã có quan điểm giải quyết vụ án và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, Tòa án công bố lời khai của chị Nông Ka T.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết từ giai đoạn thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bị đơn không tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu do đương sự cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập trên cơ sở tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị định số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Ka T được ly hôn anh Phạm Văn K; về việc nuôi con: Giao cả hai con chung Phạm Thanh T1, sinh ngày 29/4/2019 và Phạm Thủy T2, sinh ngày 19/10/2021 cho chị T trực tiếp nuôi cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, chị Nông Ka T không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung: Chị Nông Ka T không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí: Chị Nông Ka T phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

[1] Đây là quan hệ pháp luật về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Phạm Văn K cư trú tại địa bàn quận H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn:

[2] Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Phạm Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Ngày 21 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ. Nhưng tại phiên tòa ngày 06 tháng 9 năm 2024 anh Phạm Văn K vắng mặt lần thứ nhất. Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/QĐST-HNGĐ và ấn định phiên tòa được mở lại vào hồi 08 giờ ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại phiên tòa bị đơn tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không có lý do bất khả kháng. Nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn; bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nông Ka T và anh Phạm Văn K được xác lập từ ngày 14 tháng 5 năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Quá trình chung sống chị Nông Ka T và anh Phạm Văn K có thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc. Đến khoảng tháng 5 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, lối sống. Chính vì vậy, tình cảm vợ chồng ngày trầm trọng và đã sống ly thân từ đó cho đến nay không còn quan hệ về tình cảm, kinh tế. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình phân tích hòa giải nhưng không có kết quả. Tòa án đã triệu tập nhiều lần tại các buổi hòa giải anh K đều vắng mặt, chứng tỏ anh K không mong muốn để vợ chồng đoàn tụ và không chấp hành pháp luật. Xét mâu thuẫn giữa chị Nông Ka T và anh Phạm Văn K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nông Ka T.

[5] Về việc nuôi con: Chị Nông Ka T và anh Phạm Văn K có hai con chung là Phạm Thanh T1, sinh ngày 29/4/2019 và Phạm Thủy T2, sinh ngày 19/10/2021. Hội đồng xét xử xét: Từ thời điểm anh chị sống ly thân đến nay các con vẫn ở với chị T và các cháu vẫn được chăm sóc đầy đủ. Mặt khác, gia đình anh K cũng có nguyện vọng để chị T trực tiếp nuôi cả hai con, vì anh K thường xuyên đi công tác xa nhà không có thời giam chăm sóc con. Để bảo đảm cho sự ổn định về mặt tâm lý, sự phát triển về mọi mặt cho các con nên: Giao cả hai con Phạm Thanh T1 và Phạm Thủy T2 cho chị Nông Ka T trực tiếp nuôi cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về việc chia tài sản: Chị Nông Ka T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về án phí:

[7] Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nông Ka T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

[8] Chị Nông Ka T và anh Phạm Văn K được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; b khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 và các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nông Ka T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Ka T được ly hôn anh Phạm Văn K.
  2. Về việc nuôi con: Giao cả hai con chung là Phạm Thanh T1, sinh ngày 29/4/2019 và Phạm Thủy T2, sinh ngày 19/10/2021 cho chị Nông Ka T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Nông Ka T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về việc chia tài sản: Chị Nông Ka T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Nông Ka T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005643 ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Chị Nông Ka T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Chị Nông Ka T và anh Phạm Văn K vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  1. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Hải An;
  • - Chi cục THADS quận Hải An;
  • - UBND xã Khởi Nghĩa, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng (GCNKH số 15/2020 ngày 14/5/2020);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bích Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số quyết định: 41/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Nông Ka T và anh Phạm Văn K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger