Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04/4/2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đặng Văn Minh.

2/ Bà Đào Thị Mộng Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy– Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 530/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024. Về: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST– HNGĐ ngày 21/02/2025; Quyết định Hoãn phiên tòa số 29/2025/QÐST-HNGĐ ngày 14/3/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P– sinh năm 1983;

Bị đơn: Ông Phan Minh T– sinh năm 1980;

Cùng địa chỉ: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 15/8/2024 và tại khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương trình B: Bà có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với ông Phan Minh T. Bà và ông T cưới nhau vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H. Việc cưới nhau là do hai bên tự tìm hiểu. Sau khi cưới vợ chồng sống chung tại thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vợ chồng sống chung với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là sau khi sinh con đầu tiên thì ông T có tính gia trưởng, uống rượu say sỉn về đánh đập bà, vì nghĩ cho con còn nhỏ nên bà đã bỏ qua và sống tiếp, đến khi bà sinh con thứ hai được 01 tuổi thì ông T vẫn tính nào tật đấy không thay đổi, bà có làm đơn ly hôn gửi Tòa án để giải quyết thì ông T có xin lỗi và viết cam kết tại Tòa nên bà tiếp tục tha thứ về sống lại với nhau. Tuy nhiên, ông T vẫn tính nào tật ấy đi uống rượu, cờ bạc về kiếm chuyện đánh đập bà. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông Phan Minh T. Vì vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Minh T.

Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung tên Phan Thị Kim C – Sinh ngày 23/7/2000; Phan Thị Kim M – Sinh ngày 10/4/2005; Phan Thị Kiều O – Sinh ngày 05/6/2012 và Phan Gia K – Sinh ngày 29/10/2014. Khi ly hôn bà P yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Phan Thị Kiều O – Sinh ngày 05/6/2012 và Phan Gia K – Sinh ngày 29/10/2014 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Riêng 02 con chung tên Phan Thị Kim C – Sinh ngày 23/7/2000; Phan Thị Kim M – Sinh ngày 10/4/2005 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phan Minh T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tụng tố tụng như ghi lời khai, lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn. Đây là yêu cầu về ly hôn, tranh chấp nuôi con. Bị đơn có địa chỉ tại thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P vắng mặt tại phiên tòa, đã có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt đề ngày 28/02/2025. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Bị đơn ông Phan Minh T đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị P và ông Phan Minh T cưới nhau vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H. Đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình. Bà P cho rằng vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là sau khi sinh con thứ nhất thì ông T gia trưởng, uống rượu say sỉn về đánh đập bà, vì nghĩ cho con còn nhỏ nên bà đã bỏ qua, đến khi bà sinh con thứ hai được 01 tuổi thì ông T vẫn tính nào tật ấy, bà có làm đơn ly hôn đến Tòa án để giải quyết thì ông T xin lỗi và viết cam kết khắc phục nên bà tha thứ về hàn gắn với nhau. Tuy nhiên, ông T vẫn không thay đổi uống rượu, cờ bạc về kiếm chuyện đánh đập bà. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa, bà không thể nào tiếp tục cuộc sống chung với ông T được, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Minh T.

Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T nhưng ông T cố tình lẫn tránh, vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định của pháp luật được. Việc đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà P và ông T thực tế đã xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục cuộc sống chung. Do vậy, yêu cầu được ly hôn của bà Nguyễn Thị P là có căn cứ nên chấp nhận.

- Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung tên Phan Thị Kim C – Sinh ngày 23/7/2000; Phan Thị Kim M – Sinh ngày 10/4/2005; Phan Thị Kiều O – Sinh ngày 05/6/2012 và Phan Gia K – Sinh ngày 29/10/2014.

Bà P yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Phan Thị Kiều O – Sinh ngày 05/6/2012 và Phan Gia K – Sinh ngày 29/10/2014 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu nuôi con của bà P, Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi bà P và ông T không còn ở với nhau, bà P là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục các con và theo nguyện vọng của các cháu O và cháu K cũng mong muốn được tiếp tục ở với bà P. Nên việc bà P yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi các con là hoàn toàn phù hợp, đúng pháp luật, nên chấp nhận.

Riêng về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, do bà P không yêu cầu, nên không xem xét.

Đối với 02 con chung tên Phan Thị Kim C – Sinh ngày 23/7/2000; Phan Thị Kim M – Sinh ngày 10/4/2005 đã trưởng thành bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Ông Phan Minh T không phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Khoản 4 Điều 91, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 1 Điều 24, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu ly hôn với ông Phan Minh T. Bà Nguyễn Thị P được ly hôn với ông Phan Minh T.
  2. Về con chung: Giao các con chung tên Phan Thị Kiều O – Sinh ngày 05/6/2012 và Phan Gia K – Sinh ngày 29/10/2014 cho bà Nguyễn Thị P trực tiếp nuôi dưỡng .

    Bà Nguyễn Thị P không yêu cầu ông Phan Minh T cấp dưỡng nuôi con.

    Ông Phan Minh T có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung. Vì lợi ích của các con chung, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

  3. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị P phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị P đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0013998 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa.

    Ông Phan Minh T không chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Chi cục THADS H.Hàm Thuận Bắc;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Bạch Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số quyết định: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, Tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger