Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/DS-ST

Ngày: 26/5/2025.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Bời

Ông Trần Ngọc Tây

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 26/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 469/2023/TB-TLVA ngày 24 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2025/QÐST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Á

Địa chỉ trụ sở: D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ T PGiám đốc Ngân hàng TMCP Á

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hữu Hông Thái Xuân Đ Ngân hàng TMCP Á: H Q, phường L, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa(Văn bản ủy quyền số 1405/UQ-QLN.24 ngày 17/9/2024). Ông H1mặt

- Bị đơn: Ông Lý Trung H, sinh năm: 1972.

Địa chỉ: Số B đường B tháng A, phường P (nay là phường P), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông L H3H2sinh năm 1967; địa chỉ: A đường B tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa(Văn bản quyền số công chứng 143, quyển số 01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15/01/2024). Ông H3H2vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lý Huy H1, sinh năm 1967
  2. Ông Nguyễn Hồng S, sinh năm 1959
  3. Bà Lý Thị Ngọc D, sinh năm 1961
  4. Bà Nguyễn Thị Nhật L1, sinh năm 1988
  5. Ông Ngô Văn N, sinh năm 1988
  6. Bà Lý Thị Hoài P, sinh năm 1975

Cùng địa chỉ: A đường B tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa

Bà L1Nđề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông, bà H3H2SDP1đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung khởi kiện và lời khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Á trình bày:

Giữa Ngân hàng TMCP Á (sau đây viết tắt là Ngân hàng) với ông L TH1 đã ký Hợp đồng tín dụng số PHS.CN.2637.280621 ngày 27/9/2021 và Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số PHS.CN.2628.280621 ngày 28/9/2021. Theo đó, Ngân hàng đồng ý cho ông L TH1vay số tiền 500.000.000 đồng; thời hạn vay: 06 tháng từ ngày 31/3/2022 đến ngày 30/9/2022; thời hạn giải ngân: 12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng cấp tín dụng; lãi suất trong hạn: được quy định trong từng khế ước nhận nợ, căn cứ theo Khế ước nhận nợ số [...] ngày 03/3/2022 quy định lãi suất là 9,00%/năm được cố định trong thời gian 03 tháng kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay, lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng một lần; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh.

Tài sản đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng nêu trên là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 04 tại địa chỉ số A tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh HòatheoGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H08238 do Ủy ban nhân dân thành phố N 06/3/2006, cập nhật chỉnh lý sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L H3H2ngày 04/6/2019 và thửa đất số 33, tờ bản đồ số 04 tại địa chỉ số A tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh HòatheoGiấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 256/03 do Ủy ban nhân dân tỉnh K 26/6/2003, cập nhật chỉnh lý sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L H3H2ngày 04/6/2019. Tài sản trên đã được ông L H3H2 ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số PHS.BĐCN.256.280621 ngày 27/9/2021, được công chứng tại Phòng Ctỉnh K ngày 27/9/2021; đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N.

Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, ông L TH1đã trả được cho Ngân hàng khoản số tiền là 54.500.000 đồng. Đến nay, ông Lý Trung H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Trong quá trình thương lượng, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện trả nợ nhưng ông Trung H vẫn không thực hiện.

Để đảm bảo thu hồi vốn, Ngân hàng yêu cầu ông L TH1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ còn lại tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 26/5/2025) là 713.653.841 đồng; trong đó nợ gốc là 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 22.260.274 đồng, lãi quá hạn 176.835.616 đồng, phạt chậm trả 14.557.951 đồng và các khoản lãi phát sinh theo thỏa thuận của các hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 27/5/2025 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.

Sau khi ông L TH1 trả xong các khoản nợ vay nêu trên thì Ngân hàng sẽ trả lại cho ông L H3H2 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H08238 và Bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 256/03, theo Hợp đồng thế chấp số PHS.BĐCN.256.280621 đã ký ngày 27/9/2021.

Nếu ông L TH1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cục thi hành án dân sự phát mãi tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất 33 và 37 tờ bản đồ 04 tọa lạc tại địa chỉ: A đường B tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh Hòađể đảm bảo thu hồi toàn bộ nợ theo quy định pháp luật.

- Tại bản tự khai ngày 15/01/2024, bị đơn ông L TH1trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày của Ngân hàng TMCP Á giao kết hợp đồng, hạn mức cấp tín dụng, lãi suất, thời hạn vay và tài sản đảm bảo. Ông L TH1đồng ý đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp ông L TH1vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L H3H2 không có lời khai tại hồ sơ vụ án.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/01/2025, bản tự khai ngày 25/02/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị N1 D1bày:

Bà Lý Thị N1 D2chị ruột của ông L TH1và Lý Huy H2Trước đây, ngày 19/5/2004 bà D3chỉnh lý cho nhận đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 256/03 do Ủy ban nhân dân tỉnh Kngày 26/6/2003 đối với thửa đất số 33, tờ bản đồ số 04 tại địa chỉ số A tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa và bà cùng chồng là ông Nguyễn H2 S1đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H08238 do Ủy ban nhân dân thành phố Nngày 06/3/2006 đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 04 tại địa chỉ số A tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Ngày 04/6/2019, cả hai thửa đất này cùng cập nhật chỉnh lý chuyển nhượng sang tên cho ông L H3H2Sau đó, ông L H3H2thế chấp nhà, đất của hai thửa đất này để đảm bảo khoản vay của ông L TH1tại Ngân hàng thương mại cổ phần ÁHợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số PHS.BDCN.256.280621 ngày 27/9/2021.

Sau khi chuyển nhượng các thửa đất trên cho ông L H3H2thì gia đình bà có các thành viên gồm: bà là Lý Thị Ngọc Dông Nguyễn H2 S2Nguyễn Thị Nhật Lông N các cháu N5 đang tiếp tục sinh sống tại Nhà, đất này. Quá trình sinh sống, gia đình bà không tôn tạo, sửa chữa, cơi nới gì thêm, hiện trạng nhà, đất không có gì thay đổi sao với thời điểm thế chấp tại Ngân hàng.

Nay Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L TH1phải trả các khoản nợ trên cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số PHS.CN.2637.280621 ngày 27/9/2021 và Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số PHS.CN.2628.280621 ngày 28/9/2021; trường hợp ông TH1vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ nợ thì bà không có ý kiến gì. Bà có nguyện vọng đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho ông L TH1có thời gian trả nợ để gia đình bà có cơ hội tiếp tục sinh sống trên nhà, đất này.

- Bản tự khai ngày 25/02/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồng S trình bày: Ông thống nhất theo lời trình bày của bà Lý Thị N1 D4có yêu cầu gì khác.

Tại bản tự khai ngày 05/3/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn N2:

Ông Ngô Văn N2con rể của bà Lý Thị N1 D5ông Nguyễn Hồng S3nay ông đang sinh sống tại nhà thuộc thửa đất số 33 tờ bản đồ 04, diện tích 220,93m² tọa lạc tại địa chỉ: số A đường B tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 256/03 do Ủy ban nhân dân tỉnh K 26/6/2003 cấp cho ông Lý H3 Tlbà Nguyễn Thị H3ngày 19/5/2004 chỉnh lý sang tên cho bà Lý Thị N1 D604/6/2019 chỉnh lý chuyển nhượng sang tên cho ông L H3H2từ năm 2019 cho đến nay, quá trình sinh sống ông không tôn tạo, sửa chữa hay đóng góp gì trên tài sản này.

Hiện nhà đất này và thửa đất số 37, tờ bản đồ số 04 tại địa chỉ số A tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đang thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á bảo khoản vay của ông L TH1

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông bận công việc nên đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt ông.

- Tại bản tự khai ngày 05/3/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N3 L2bày:

Bà Nguyễn Thị N3 L3con ruột của bà Lý Thị N1 D5ông Nguyễn Hồng S2thống nhất theo lời trình bày của ông Ngô Văn N4 có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án này và đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt bà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị H4 không có lời khai tại hồ sơ vụ án.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa:

Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ việc; người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L H3H2và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị H5 mặt nên đề nghị xét xử vắng mặt những người nêu trên. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 118; Điều 119; Điều 318; Điều 319; Điều 323; Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95; Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7; Điều 8 và Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCÁÁvề việc buộc ông L TH1 trả dứt điểm cho ngân hàng tổng số nợ gốc lãi tạm tính đến ngày 26/5/2025 của Hợp đồng Hợp đồng tín dụng số PHS.CN.2637.280621 ngày 27/9/2021; các khoản lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày 27/5/2025 cho đến khi ông L TH1 hoàn thành trả nợ vay cho ngân hàng và đề nghị xử lý tài sản thế chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo Sổ hộ khẩu gia đình số 25917 đứng tên chủ hộ Nguyễn Thị H3thì ông L TH1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: A đường B tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa ngày 14/3/1988; ngày 02/8/2004 tách khẩu cùng địa chỉ. Do đó, Ngày 24 tháng 11 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa thụ lý vụ án về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Á đối với ông L TH1 là theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lý H6 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị H4 nhưng những người này không đến Tòa án làm việc nên được coi là từ bỏ quyền lợi của mình. Căn cứ Điều 91; Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ 2, không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Ngày 27/9/2021, ông Lý Trung H đã vay của Ngân hàng TMCÁÁsố tiền 500.000.000 đồng theo Hợp đồng tín dụng số PHS.CN.2637.280621, thời hạn vay: 06 tháng từ ngày 31/3/2022 đến ngày 30/9/2022, thời hạn giải ngân: 12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng cấp tín dụng, lãi suất trong hạn: được quy định trong từng khế ước nhận nợ, căn cứ theo Khế ước nhận nợ số [...] ngày 03/3/2022 quy định lãi suất là 9,00%/năm được cố định trong thời gian 03 tháng kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng một lần; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; mục đích vay: bổ sung vốn kinh doanh.

[3.2] Tài sản đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng số PHS.CN.2637.280621 ngày 27/9/2021 là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc các thửa đất số 37, tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại số A đường B tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa(Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H08238 do Ủy ban nhân dân thành phố N 06/3/2006, cập nhật chỉnh lý sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L H3H2ngày 04/6/2019) và thửa đất số 33, tờ bản đồ số 04 tọa lạc tại 175 đường 2 tháng 4, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa (Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 256/03 do Ủy ban nhân dân tỉnh K 26/6/2003, cập nhật chỉnh lý sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L H3H2ngày 04/6/2019) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số PHS.BĐCN.256.280621 ngày 27/9/2021 được công chứng tại Phòng Ctỉnh K ngày 27/9/2021; đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N.

[3.3] Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền vay và ông L TH1 đã trả được cho Ngân hàng số tiền 54.500.000 đồng. Đến nay ông TH1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu ông thanh toán toàn bộ nợ gốc, lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết và xử lý tài sản thế chấp theo quy định pháp luật để thu hồi nợ.

[3.4] Căn cứ khoản 3.2 Điều 3 của Hợp đồng tín dụng PHS.CN.2637.280621 ngày 27/9/2021, các bên thỏa thuận bên vay phải hoàn trả nợ gốc một lần vào ngày kết thúc thời hạn cho vay quy định tại khế ước nhận nợ hoặc theo các thỏa thuận khác; trả nợ lãi theo định kỳ hàng tháng. Căn cứ khoản 6.1.16 Điều 6 của Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung thì “Ngân hàng chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn trong các trường hợp sau:...Bên được cấp tín dụng, bên bảo đảm có một hoặc một số khoản cấp tín dụng chuyển sang nợ quá hạn và/hoặc có nguy cơ không có khả năng trả nợ”. Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng tín dụng được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các bên có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình. Hình thức và nội dung Hợp đồng phù hợp với quy định khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành. Vì ông L TH1 không thực hiện đúng nghĩa vụ của bên vay theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung nên Ngân hàng TMCP Á khởi kiện yêu cầu ông L TH1 phải trả tổng số tiền tính đến ngày 26/5/2025 là 713.653.841 đồng. Trong đó, nợ gốc là 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 22.260.274 đồng và lãi quá hạn 176.835.616 đồng, lãi phạt chậm trả là: 14.557.951 đồng và các khoản lãi phát sinh k từ 27/5/2025 theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng đã ký cho đến khi trả hết khoản nợ gốc cho Ngân hàng.

[3.5] Xét thấy, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 11 và khoản 2 Điều 13 quy chế cho vay của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng N6; khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm cho hợp đồng tín dụng: không có quy định nào kể cả trong Bộ luật Dân sự cho phép tổ chức tín dụng phạt nhiều lần về cùng một vi phạm trong hợp đồng tín dụng, nếu cho phép phạt nhiều lần thì quy định lãi quá hạn không được vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn không có hiệu lực. Vì vậy, đây là lãi chồng lãi, phạt chồng phạt. Do đó, đối với nội dung thỏa thuận lãi suất trên số tiền lãi chậm trả 10%/năm mà các bên thoả thuận tại khoản 2.4 Điều 2 của Hợp đồng tín dụng ngày 27/9/2021 là trái pháp luật theo khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3.6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền tính đến ngày 26/5/2025. Trong đó, nợ gốc là 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 22.260.274 đồng và lãi quá hạn 176.835.616 đồng và các khoản lãi, phí phát sinh kể từ 27/5/2025 trên số tiền gốc chậm thanh toán theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng; không chấp nhận yêu cầu buộc bị đơn ông L TH1trả thêm phần lãi chậm trả với tiền là 14.557.951 đồng cho Ngân hàng.

[3.7] Về việc xử lý tài sản bảo đảm: Để bảo đảm khoản vay tại Ngân hàng, ông L H3H2đã thế chấp tài sản là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 04 tại địa chỉ số A tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh HòatheoGiấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H08238 do Ủy ban nhân dân thành phố N 06/3/2006, cập nhật chỉnh lý sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L H3H2ngày 04/6/2019 và thửa đất số 33, tờ bản đồ số 04 tại địa chỉ số A tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh HòatheoGiấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 256/03 do Ủy ban nhân dân tỉnh K 26/6/2003, cập nhật chỉnh lý sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L H3H2ngày 04/6/2019; theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số PHS.BĐCN.256.280621 ngày 27/9/2021; được công chứng tại Phòng C1ngày 27/9/2021. Tài sản đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N. Hội đồng xét xử xét thấy hợp đồng thế chấp trên về hình thức và nội dung Hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 298 của Bộ luật dân sự 2015; điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành Bộ luật dân sự về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ.

Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn không trả được nợ là có căn cứ theo quy định tại Điều 299; khoản 7 Điều 323 Bộ luật dân sự 2015 và phù hợp với các thỏa thuận của hợp đồng thế chấp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về chi phí tố tụng:

Đối với số tiền 2.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà Ngân hàng TMCP Á đã nộp: Do yêu cầu khởi kiện về tranh chấp hợp đồng tín dụng của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn ông L TH1 phải trả lại cho Ngân hàng số tiền 2.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.

[5] Về án phí:

- Bị đơn ông L TH1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền: 699.095.890 đồng là {20.000.000 đồng + (4% x 299.095.890 đồng)} = 31.963.836 đồng.

- Ngân hàng TMCP Á án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 14.557.951 đồng là (14.557.951 x 5%) = 727.898 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 12.860.424 đồng (Mười hai triệu tám trăm sáu mươi nghìn bốn trăm hai mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001574 ngày 24/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. H4lại cho Ngân hàng TMCP Á 12.132.526 đồng tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 158; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 117; 118; 119; 298; 299; 317; 318; 323; 463; 466 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự 2015;

- Căn cứ khoản 16 Điều 4; khoản 2 Điều 91; Điều 95; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010

- Căn cứ Điều 7; 8; 12 và Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn ông L TH1.
    1. Buộc ông L TH1 phải trả cho Ngân hàng TMCÁÁsố tiền tạm tính đến ngày 26/5/2025 là: 699.095.890 đồng (Sáu trăm chín mươi chín triệu không năm chín mươi lăm nghìn tám trăm chín mươi đồng). Trong đó nợ gốc là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), nợ lãi trong hạn là 22.260.274 đồng (Hai mươi hai triệu hai trăm sáu mươi nghìn hai trăm bảy mươi bốn đồng), lãi quá hạn là 176.835.616 đồng (Một trăm bảy mươi sáu triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm mười sáu đồng), theo Hợp đồng tín dụng PHS.CN.2637.280621 ngày 27/9/2021.
    2. Kể từ ngày 27/5/2025, ông L TH1 phải tiếp tục có nghĩa vụ trả tiền lãi quá hạn đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số PHS.CN.2637.280621 ngày 27/9/2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
    3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCÁÁvề việc buộc ông L TH1thanh toán 14.557.951 đồng (Mười bốn triệu năm trăm năm mươi bảy nghìn chín trăm năm mươi mốt đồng) tiền lãi phạt chậm trả.
    4. Trong trường hợp ông L TH1không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 04 toạ lạc tại địa chỉ số AB tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa(Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H08238 do Ủy ban nhân dân thành phố N 06/3/2006, cập nhật chỉnh lý sang tên cho ông L H3H2ngày 04/6/2019) và thửa đất số 33, tờ bản đồ số 04 tại địa chỉ số A tháng D, phường V (nay là phường V), thành phố N, tỉnh Khánh Hòa(Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 256/03 do Ủy ban nhân dân tỉnh K 26/6/2003, cập nhật chỉnh lý sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L H3H2ngày 04/6/2019) đã thế chấp cho Ngân hàng TMCÁ Áxử lý theo quy định tại Điều 299 và khoản 7 Điều 323 của Bộ luật dân sự 2015.
    5. Sau khi phát mãi tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng TMCÁÁthì ông L TH1 tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Á đến khi trả hết nợ.
    6. Sau khi ông L TH1thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCÁ Átrả lại cho ông L H3H2bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN H08238 do Ủy ban nhân dân thành phố N 06/3/2006, cập nhật chỉnh lý sang tên cho ông L H3H2ngày 04/6/2019 và bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 256/03 do Ủy ban nhân dân tỉnh K 26/6/2003, cập nhật chỉnh lý sang tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L H3H2ngày 04/6/2019.
  2. Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn ông L TH1 hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Á số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ở giai đoạn thi hành án theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  3. Về án phí:
    1. Buộc ông L TH1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 31.963.836 đồng (Ba mươi mốt triệu chín trăm sáu mươi ba nghìn tám trăm ba mươi sáu đồng).
    2. Buộc Ngân hàng TMCP Á án phí dân sự sơ thẩm là 727.898 đồng (Bảy trăm hai mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi tám đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 12.860.424 đồng (Mười hai triệu tám trăm sáu mươi nghìn bốn trăm hai mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001574 ngày 24/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. H4lại cho Ngân hàng TMCP Á 12.132.526 đồng (Mười hai triệu một trăm ba mươi hai nghìn năm trăm hai mươi sáu đồng) tạm ứng án phí.
  4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
  5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND TP. Nha Trang;
  • - Chi cục THADS TP. Nha Trang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM-HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Trang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Bời

Trần Ngọc Tây

Nguyễn Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 41/2025/DS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số quyết định: 41/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Á CHâu - bị đơn Lý Trung Hoàng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger