Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 40/2024/HNGĐ- ST

Ngày: 03-5-2024

V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vũ
  2. Ông Bùi Văn Mưa Lớn

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 78/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QÐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 45/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Lâm Ngọc Minh C, sinh năm 1999; Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Kiều Việt L, sinh năm 1994; Nơi cư trú: ấp Đ, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Chị C có đơn xin vắng mặt, anh L vắng mặt không L do

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/3/2024 cũng như trong quá trình tố tụng chị Lâm Ngọc Minh C trình bày:

Chị và anh L do quen biết tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2019 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 20/9/2019. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc và có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Lâm Ngọc T, sinh ngày 08/10/2020. Sau đó, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin ly hôn đối với anh L.

Về con chung: Sau khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Lâm Ngọc T, sinh ngày 08/10/2020, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có

Anh Nguyễn Kiều Việt L vắng mặt tại phiên toà cũng như trong suốt quá trình tố tụng nên không có lời trình bày

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm cho rằng:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ L, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng như đương sự nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản liên quan quy định. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có L do nên vi phạm quy định tại Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Về nội dung:

Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C đối với anh L cụ thể:

  • + Về hôn nhân: chị C và anh L được ly hôn với nhau.
  • + Về con chung: Sau khi ly hôn chị C trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Lâm Ngọc T, sinh ngày 08/10/2020, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị C không yêu cầu.
  • + Về tài sản chung: chị C và anh L tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyét nên không xem xét giải quyết.
  • + Về nợ chung: chị C khai không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào đơn khởi kiện đề ngày 08/3/2024 của chị Lâm Ngọc Minh C đối với anh Nguyễn Kiều Việt L thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”. Quan hệ pháp luật tranh chấp nêu trên được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

Anh Nguyễn Kiều Việt L có nơi cư trú tại xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc thụ lý đúng thẩm quyền.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ L vụ án, thông báo mở phiên họp công khai chứng cứ cũng như thông báo hòa giải cho anh L đến Tòa để tiến hành hòa giải nhưng anh L vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải được. Ngoài ra, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre cũng đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho anh L đến để tham gia phiên tòa nhưng anh L vắng mặt không rõ L do đồng thời trong quá trình tố tụng chị C có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh L và chị C là phù hợp.

[2] Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân: chị Lâm Ngọc Minh C và anh Nguyễn Kiều Việt L tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn vào ngày 20/9/2019 tại UBND xã Thành An, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre nên được xem là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Anh chị cũng có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của chị C là có căn cứ nên được chấp nhận, bởi lẽ sau khi Toà thụ L hồ sơ vụ án đã ra thông báo thụ lý vụ án, thông báo hoà giải cho anh L biết để anh đến Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia hoà giải với chị C nhằm tìm biện pháp tích cực để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng anh L vẫn cố tình không đến, điều đó chứng tỏ anh L cũng không có thiện chí đoàn tụ với chị C. Nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C đối với anh L là phù hợp.

2.2. Về con chung:

Trong thời gian chung sống chị Lâm Ngọc Minh C và anh Nguyễn Kiều Việt L có 01 con chung tên Nguyễn Lâm Ngọc T, sinh ngày 08/10/2020. Hiện cháu T đang sống với chị C đồng thời chị C cũng yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và anh L cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị C. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của cháu T không bị thay đổi, không làm ảnh hưởng đến tâm L của cháu, Hội đồng xét xử thấy rằng nên giao cháu T cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về mức cấp dưỡng nuôi con: Do chị C không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

2.3 Về tài sản chung: Chị C và anh L tự thoả thuận, không có nên không xem xét giải quyết.

2.4 Về nợ chung: Chị C khai không có nên không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Lâm Ngọc Minh C phải có nghĩa vụ nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 điểm, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ các điều 51, 53, 54, 56, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Ngọc Minh C đối với anh Nguyễn Kiều Việt L, cụ thể tuyên:

  1. Về hôn nhân: Chị Lâm Ngọc Minh C và anh Nguyễn Kiều Việt L được ly hôn với nhau.
  2. Về con chung: Sau khi ly hôn chị C trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Lâm Ngọc T, sinh ngày 08/10/2020, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị C không yêu cầu.

Anh Nguyễn Kiều Việt L được quyền đến thăm, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung: Chị C và anh L tự thoả thuận, không có nên không xem xét giải quyết.
  2. Về nợ chung: Chị C khai không có nên không xem xét giải quyết
  3. Về án phí:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng chị Lâm Ngọc Minh C có nghĩa vụ nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003176 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án nơi thường trú.

Nơi nhận:

  • - TAND Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc (2b);
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc (1b);
  • - UBND xã Thành An (1b);
  • - Những người tham gia tố tụng (2b);
  • - Lưu HS, VP, THA (4b).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Hồng Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 40/2024/HNGĐ- ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số quyết định: 40/2024/HNGĐ- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger