|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN- TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 40/2024/DS-ST Ngày: 19/09/2024 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN,THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Việt Hùng |
| Các Hội thẩm nhân dân | Ông Nguyễn Văn Vĩ |
| Bà Nguyễn Thị Hồng |
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn,Thành phố Hà Nội: ông Thiều Văn Thịnh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 19 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số:195/TLST- DS ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 59/QĐXX-ST ngày 26 tháng 08 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1944
Địa chỉ: thôn L, xã V, H.S, thành phố Hà Nội.
* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1968
Địa chỉ: thôn L, xã V, H.S, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của bà C là chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1982 và anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1977; Địa chỉ: thôn L, xã V, H.S, thành phố Hà Nội.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1982
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1977
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985
- Chị Đỗ Thị X, sinh năm 1989
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1969
- Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1944
- Cụ Nguyễn Thị T4, sinh năm 1940
- Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1991
- Anh Nguyễn Thế V, sinh năm 1991
- Anh Nguyễn Hoài V1, sinh năm 2000
- Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1995
- Chị Nguyễn Thùy D1, sinh năm 1997
- Cháu Nguyễn Hoài T5, sinh năm 2003
- Cháu Nguyễn Thị N1, sinh năm 2004
Địa chỉ: thôn L, xã V, H.S, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Số F, Ấp X, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: thôn L, xã V, H.S, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn T2, chị Đỗ Thị X, anh Đỗ Hoài V2, chị Nguyễn Hoài T5, cháu Nguyễn Thị L1 chị Nguyễn Thị Q.
- Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị N, Bà Nguyễn Thị Đ, cháu Nguyễn Thị D, cháu Nguyễn Văn C1, cháu Nguyễn Thị Thùy D1, cháu Nguyễn Thế V là anh Nguyễn Văn L.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp sau cũng như tại phiên tòa – Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Q có ý kiến trình bày như sau:
Chị là đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị C; Chị xây dựng gia đình với anh Nguyễn Văn T vào năm 1999 và về làm dâu chung sống cùng gia đình bà C cùng chồng từ đó đến nay.
Nguồn gốc thửa đất của bà Nguyễn Thị C: Năm 1977 HTX Lương Phúc cấp đất cho bà Nguyễn Thị C thửa đất số 133b, tờ bản đồ số 02, diện tích 330m2 tại thôn L, xã V, huyện S, thành phố Hà Nội. Gia đình nhà chị sử dụng ổn định từ khi được cấp đất đến thời điểm năm 2023 gia đình anh L xây tường bao vào phần đất là giọt ranh mà gia đình chị để lại, dẫn đến tường nhà chị bị ảnh hưởng khi mưa gió, nước giọt ranh chảy vào tường bao do anh L xây lấn chiếm bắn vào tường nhà chị gây ẩm mốc, và mất an toàn có thể sập đổ. Gia đình chị nhiều lần yêu cầu anh L phải tháo rỡ tường bao trả lại phần đất là giọt tranh cho nhà chị nhưng anh L không tháo rỡ.
Trên đất thửa đất hiện có bà Nguyễn Thị C; vợ, chồng chị anh Nguyễn Văn T; em chồng Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985; em dâu chị Nguyễn Thị X1, sinh năm 1989; Cháu Nguyễn Hoài V1, sinh năm 2000; cháu Nguyễn Hoài T5, sinh năm 2003; con dâu Nguyễn Thị N1, sinh năm 2004 đang sinh sống trên thửa đất.
Hiện tại thửa đất trên vẫn đứng tên mẹ chồng chị là bà Nguyễn Thị C chưa chia tách cho ai. Thửa đất số 133b, tờ bản đồ số 02, diện tích 330m2 tại L, xã V chưa được cấp GCNQSDĐ.
Vị trí đất và các cạnh tiếp giáp các hộ:
- + Phía Đông giáp đất gia đình ông Nguyễn Văn T6.
- + Phía Tây giáp kênh mương thoát nước của đội 1-2 và đất cụ Nguyễn Văn B.
- + Phía Nam giáp giáp đất ông Nguyễn Văn L .
- + Phía Bắc giáp mương nước.
Công trình trên đất: Theo chị được biết sau khi được cấp đất bà C đã làm móng nhà trước, đến khoảng năm 1992 - 1993 thì xây nhà như hiện tại tiếp giáp gia đình anh L. Đến khoảng năm 2013 gia đình chị cải tạo lại nhà và đảo ngói. Ngoài ra có nhà 2 tầng xây năm 2013, hiện vợ chồng chị đang ở; nhà cấp 4 mẹ chồng chồng và vợ chồng chú T8 em chồng đang ở.
Về ranh giới đất: Chị khẳng định và xác nhận đối với các hộ liền kề gia đình nhà cụ Nguyễn Văn B và gia đình ông Nguyễn Văn T6 đều không không có tranh chấp đã có mốc giới ổn định. Về phía Bắc gia đình nhà chị có xây công trình một phần trên đất kênh mương là đất công, chị không có yêu cầu đề nghị gì; Về phía địa phương không có kiến nghị gì.
Đối với công trình gia đình nhà anh L xây tường bao giáp đất gia đình nhà chị (phía Nam) đã xây sang phần đất gia đình chị với diện tích 4m2. Lý do chị khẳng định gia đình nhà anh L xây lấn chiếm đất gia đình chị vì: Khi xây nhà gia đình chị đã để lại một phần đất để làm giọt tranh, khi mưa mái tranh sẽ chảy trên phần đất gia đình mình; Do anh L xây tường vào phần giọt tranh làm nước giọt tranh đã chảy vào phần tường và bắn vào tường nhà của gia đình chị, đây là căn cứ chị khởi kiện đòi lại đất. Do vậy chị là Người đại diện theo ủy quyền của bà C yêu cầu gia đình anh L phải tháo dỡ đoạn tường bao trả lại diện tích 4m2 đất làm giọt tranh cho gia đình chị.
Tòa án, Hội đồng định giá tiến hành xem xét, thẩm định, đo đạc và định giá tài sản, chị hoàn toàn nhất trí với kết quả do Hội đồng định giá xác định và sơ đồ đất và không có ý kiến gì.
Bố chồng chị là ông Nguyễn Văn T3, năm nay 83 tuổi, địa chỉ: số nhà F, Ấp X, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Ông T3 bỏ bà C đi từ trước năm 1980 đến nay; ông T3 đã có gia đình riêng và không liên quan đến thửa đất của mẹ chồng chị. Ông T3 không có quyền và lợi ích gì đối với thửa đất của gia đình chị. Vì trên Bản đồ địa chính thửa đất này đứng tên riêng của bà C. Chị xác nhận Tòa án đã tống đạt và thông báo các văn bản tố tụng cho ông T3, chị đều nhận thay và thông báo cho bố chồng chị được biết; do ông T3 tuổi đã cao, sức khỏe yếu không thể đến Tòa án tham gia tố tụng theo thông báo của Tòa án được. Chị đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ông T3.
2. Bị đơn anh Nguyễn Văn L có ý kiến trình bày:
Nguồn gốc thửa đất : Gia đình anh được UBND xã V cấp cho thửa đất số 32, tờ bản đồ 02 Diện tích 988m2 tại thôn L, xã V, huyện S, TP . Hà Nội; Cấp cho mẹ anh là bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1940, hiện bà Đ đang ở với anh. Đất này mẹ anh đã cho anh; Thửa đất chưa được cấp GCNQSDĐ; Hiện đang sinh sống trên đất có bà Đ, vợ anh Nguyễn Thị N, con trai Nguyễn Văn C1, sinh năm 1991, Nguyễn Thế V, sinh năm 1994, con dâu Nguyễn Thị D, sinh năm 1994, cháu Nguyễn Thị Thùy D1, sinh năm 1997. Ranh giới đất giữa gia đình anh và gia đình bà C có nền móng tường cũ.
Vị trí đất và tiếp giáp các hộ:
- + Phía Đông giáp đất gia đình ông Nguyễn Văn Q1; nhà Nguyễn Văn B1.
- + Phía Tây giáp đất đất cụ Nguyễn Văn T6 và bà C
- + Phía Nam giáp giáp đất ông Nguyễn Văn T7 và gia đình anh Nguyễn Văn T8.(Hướng cổng)
- + Phía Bắc giáp mương nước.
Công trình trên đất: Anh có xây 02 nhà mái bằng 2 tầng và năm 2008 và công trình trên đất.
Phần đất hiện đang có tranh chấp tiếp giáp với đất gia đình cụ Nguyễn Thị C nằm vị trí phía Tây thửa đất.
Năm 2022 anh có xây tường bao làm ranh giới với gia đình cụ C thì xảy ra tranh chấp. Cụ thể: Anh xây bức tường 10x10cm cao khoảng 1,2m, dài khoảng 7m. Khi xây không xảy ra tranh chấp, anh xây đúng trên phần nền móng tường cũ của gia đình anh. Do có mâu thuẫn từ trước và gia đình cụ C cho rằng anh xây lấn sang phần đất của đất cụ C 4m2 vào phần giọt tranh của nhà cụ C và làm ảnh hưởng đất tường nhà cụ C nên cụ C đã làm đơn khởi kiện.
Quan điểm của anh: Anh xây tường đúng phần đất của gia đình nhà anh, nên anh không chấp nhận yêu cầu đòi đất và tháo rỡ công trình theo yêu cầu của bà C và chị Q.
Theo anh được biết và nguồn gốc đất của gia đình cụ C: Đất của gia đình cụ C đang sử dụng có nguồn gốc là do HTX L2 từ đất của cụ Nguyễn Văn T6 (hàng xóm liền kề hai gia đình) cấp cho gia đình cụ C; Cụ thể: Khoảng những năm 1977 HTX Lương Phúc căn cứ vào diện tích đất cụ thể của từng hộ gia đình trong thôn (Nếu diện tích đất trên 360m2 thì phải cắt ra trả cho thôn, nên đất của cụ T6 phải cắt một phần đất trả cho thôn L và sau thôn cấp cho cụ C.) Do vậy về ranh giới giữa đất gia đình nhà anh và gia đình cụ C phải xác định từ đất cụ T6 là một đường thẳng thì mới có căn cứ. Việc gia đình nhà bà C xây nhà để lại phần đất vẫn như hiện tại, do khi nhà bà C cải tạo nhà vào khoảng năm 2013 – 2014 làm lại mái từ mái lợp dạ, chuyển sang lợp mái ngói thì đã chảy sang phần đất gia đình nhà anh. Anh căn cứ vào ranh giới đất được xác định giữa đất của nhà cụ T6 với đất nhà anh và gia đình nhà cụ C là một đường thẳng nên anh xây tường đúng theo ranh giới cũ.
Tòa án, cùng Hội đồng định giá tiến hành xem xét, thẩm định, đo đạc và định giá tài sản anh đã được công khai tài liệu chứng cứ anh hoàn toàn nhất trí và không có ý kiến gì.
Đối với yêu cầu của chị Q là người đại diện theo ủy quyền của bà C đòi diện tích 4m2 và tháo rỡ tường bao anh không đồng ý. Anh khẳng định anh xây dựng công trình trên phần đất của gia đình nhà anh được cấp. Anh đề nghị Tòa án, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ, sơ đồ đo đất giải quyết theo quy định. Nếu phần công trình tường bao gia đình anh xây sang đất của bà C anh xin trả lại. Phần đất gia đình bà C lấn sang đất gia đình nhà anh do anh không có yêu cầu nên anh xin giải quyết sau.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn T2, chị Đỗ Thị X, anh Đỗ Hoài V2, chị Nguyễn Hoài T5, cháu Nguyễn Thị N1 đều thống nhất quan điểm của chị Q và có Giấy ủy quyền cho chị Nguyễn Thị Q và từ chối tham gia tố tụng.
- Chị Nguyễn Thị N, Bà Nguyễn Thị Đ, cháu Nguyễn Thị D, cháu Nguyễn Văn C1, cháu Nguyễn Thị Thùy D1, cháu Nguyễn Thế V đều thống nhất quan điểm của anh Nguyễn Văn L và Ủy quyền cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp giải quyết và xin từ chối tham gia tố tụng.
Đại diện VKS nhân dân huyện S phát biểu quan điểm:
+ Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn; Bị đơn; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng pháp luật quy định.
Thẩm phán, HĐXX sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Đại diện VKSND huyện Sóc Sơn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; 146; các Điều 271; 272; 273 của BLTTDS.
- - Điều 155; khoản 2 Điều 165; Điều 166; Điều 174; Điều 175; Điều 176 Bộ luật dân sự.
- - Căn cứ Điều 202, 203 Luật Đất đai năm 2013
- - Căn cứ Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Đề nghị:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C.
- - Buộc anh Nguyễn Văn L phải tháo rỡ công trình xây trên phần đất của bà C và trả lại cho bà C diện tích 3.1m2 đất.
Án phí: Bà Nguyễn Thị C không phải chịu tiền án phí Dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn L phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm cho Nhà nước.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, yêu cầu của các bên đương sự; quan điểm giải quyết vụ án của đại diện VKSND huyện Sóc Sơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
I/ Về thủ tục tố tụng:
Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị C yêu cầu anh Nguyễn Văn L phải tháo dỡ tường bao trả lại diện tích đất lấn chiếm; Bị đơn anh Nguyễn Văn L có nơi cư trú tại Thôn L, xã V, H.S, thành phố Hà Nội. theo quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a và c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
Đối với Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vắng mặt nhưng đã có Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa ngày 19/9/2024, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho các bên đương sự, do vậy căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
II/ Về nội dung vụ án:
[1]. Nguồn gốc đất của gia đình bà Nguyễn Thị C:
Năm 1977 HTX Lương Phúc cấp thửa đất 133b, tờ bản đồ số 02, diện tích 330m2 tại thôn L, xã V, huyện S, thành phố Hà Nội cho bà Nguyễn Thị C. Hiện thửa đất chưa được cấp GCNQSDĐ. Năm 1977 bà C làm móng nhà, đến năm 1992 thì xây nhà tạm lợp mái rơm, dạ, đến năm 2013 thì cải tạo lại nhà và thay mái lợp ngói như hiện tại. Bà C sử dụng ổn định đến năm 2022 khi anh L xây tường bao vào phần đất gia đình nhà bà để làm gọt tranh chảy thoát nước nên xảy ra tranh chấp.
Vị trí đất:
- + Phía Đông tiếp giáp đất gia đình anh Nguyễn Văn L.
- + Phía Tây tiếp giáp đất anh T9; giáp đất gia đình cụ N2.
- + Phía Nam tiếp giáp đất gia đình anh T6 và cụ N3
- + Phía Bắc giáp kênh thoát nước.
[2] Nguồn gốc đất của gia đình anh Nguyễn Văn L đang sử dụng:
Gia đình được UBND xã V cấp cho thửa đất số 32, tờ bản đồ 02 Diện tích 988m2 tại thôn L, xã V, huyện S, thành phố Hà Nội người được giao đất là bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1940, (mẹ đẻ anh L). Thửa đất với diện tích 988m2 mẹ anh đã cho anh quản lý và sử dụng và chưa được cấp GCNQSDĐ.
Vị trí đất:
- + Phía Đông giáp đất gia đình ông Nguyễn Văn Q1; nhà Nguyễn Văn B1.
- + Phía Tây giáp đất đất cụ Nguyễn Văn T6 và bà C
- + Phía Nam giáp giáp đất ông Nguyễn Văn T7 và gia đình anh Nguyễn Văn T8.(Hướng cổng)
- + Phía Bắc giáp mương nước.
[3]. UBND xã V thông tin liên quan đến thửa đất của hai hộ như sau:
- Đối với thửa đất số thửa đất số 32, tờ bản đồ 02 Diện tích 988m2 tại thôn L, xã V, huyện S, thành phố Hà Nội, tại sổ địa chính do UBND xã V quản lý thửa đất đứng tên anh Nguyễn Văn L.
- Đối với thửa đất số 133b, tờ bản đồ số 02, diện tích 330m2 tại thôn L, xã V, huyện S, thành phố Hà Nội, tại sổ địa chính do UBND xã V quản lý thửa đất đứng tên bà Nguyễn Thị C.
Cả hai thửa đất trên hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Quá trình hai hộ gia đình sử dụng đất đã xảy ra tranh chấp; UBND xã V đã tiến hành mở phiên hòa giải giữa hai gia đình nhưng không thành. UBND xã V đã cung cấp cho Tòa án trích lục thửa đất, bản đồ địa chính khu đất, bản đồ V, và thông tin quá trình sử dụng đất của hai hộ làm căn cứ giải quyết vụ án.
- Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định tài sản ngày 19/01/2024 và sơ đồ Trích đo hiện trạng thửa đất; Bản đồ VN năm 2016; Bản đồ địa chính năm 1993 do UBND xã V Hội đồng xét xử nhận định:
Theo Bản đồ địa chính năm 1993 do UBND xã V đang lưu giữ và quản lý ; Trích lục bản đồ đất hai thửa theo tỷ lệ 1/1000; thửa số 133b và thửa số 132 vị trí đất tiếp giáp giữa hai thửa đất là 01 đường thẳng; Theo sơ đồ trích đo hiện trạng 02 thửa đất do các bên đương sự chỉ dẫn xác định mốc giới đối với 02 thửa đất thì hiện trạng xây dựng và sử dụng đất của hai hộ được thể hiện:
Vị trí tranh chấp giữa hai thửa đất được xác định từ các điểm a,b,18,12,13, c. Trong đó điểm giao nhau được xác định tại vị trí số 18. Cụ thể:
- - Phần diện tích tranh chấp thửa 132 lấn sang thửa 133b được giới hạn bởi các điểm a,b,18,a có diện tích 3.1m2. Chiều dài từ 18-a: 6.95m; 18-b: 7.06m; a-b: 0.9m.
- - Phần diện tích tranh chấp thửa 133b lấn sang thửa 132 được giới hạn bởi các điểm 18,12,13,c,18 có diện tích 2.6m2. Chiều dài từ 18-12: 6.36m; 12-13: 0.81m; 13-c: 1.2m; c-18: 5.25m.
Đối với phần đất và tường do anh L xây chồng lấn diện tích 3.1m2 được giới hạn bởi các điểm a,b,18,a thuộc phần đất của bà C.
- Tại Biên bản làm việc của Tòa án với các hộ liền kề đất gia đình anh Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị C xác định, giữa các hộ và gia đình anh L, bà C đều xác nhận không có tranh chấp, đã có mốc giới ổn định.
- Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét nhận thấy: Bà Nguyễn Thị C yêu cầu anh Nguyễn Văn L phải tháo rỡ công trình là tường bao xây trên phần đất làm giọt tranh của gia đình bà và phải trả lại diện tích 4m2; Anh Nguyễn Văn L không đồng ý với yêu cầu đòi lại đất của bà C nhưng anh không đưa ra được tài liệu chứng cứ chứng minh cho quyền sử dụng đất hợp pháp của mình đối với phần đất anh đã xây tường bao hiện bà C đang có tranh chấp. Theo kết quả xem xét thẩm định và đo đạc đối với 02 thửa đất (Sau khi công khai tài liệu chứng cứ và hòa giải, và tại phiên tòa cả hai bên đều xác nhận kết quả đo đạc của Hội đồng định giá tài sản) do đó đủ cơ sở xác định diện tích đất gia đình anh Nguyễn Văn L đang xây lấn sang đất ở của bà Nguyễn Thị C là 3.1m2. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C; cần buộc anh Nguyễn Văn L trả lại cho bà Nguyễn Thị C diện tích 3.1m2 đất và phải tháo dỡ phần công trình xây trên đất của bà C.
Đối với phần diện tích đất gia đình nhà bà Nguyễn Thị C xây chồng lấn sang đất gia đình anh L: Do phía bị đơn anh Nguyễn Văn L không có yêu cầu phản tố đối với phần đất bị lấn chiếm có diện tích 2.6m2 theo các điểm 18,12,13,c,18 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2] Về giá trị tài sản: Theo Biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá ngày 19/01/2024 thì các đương sự xác nhận, đồng ý tài sản và giá trị tài sản tranh chấp gồm có Quyền sử dụng đất tranh chấp trị giá 4.000.000đ; công trình xây dựng (gồm tường bao).
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Nguyên đơn bà C được chấp nhận một phần, do bà C là người cao tuổi nên không phải chịu án phí DSST. Anh Nguyễn Văn L phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; 146; các Điều 271; 272; 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Điều 155; khoản 2 Điều 165; Điều 166; Điều 174; Điều 175; Điều 176; Điều 579 Bộ luật dân sự;
- - Điều 202, khoản 1 Điều 203, Điều 170 Luật đất đai năm 2013.
- - Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị C đối với anh anh Nguyễn Văn L.
- Buộc anh Nguyễn Văn L phải tháo dỡ đoạn tường bao, trả lại cho bà Nguyễn Thị C diện tích 3.1m2 đất tại địa chỉ thôn L, xã V, huyện S, thành phố Hà Nội. Được giới hạn bởi các điểm a,b,18,a có diện tích 3.1m2. Chiều dài từ 18-a: 6.95m; 18-b: 7.06m; a-b: 0.9m. Kèm theo sơ đồ kỹ thuật thửa đất.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn L phải nộp 650.000đ án phí Dân sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo về phần có liên quan.
Bà Nguyễn Thị C không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Lê Việt Hùng |
Quyết định số 40/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số quyết định: 40/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
