Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Số: 40/2021/QĐST- HNGĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Tĩnh, ngày 19 tháng 7 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Hà Ngân

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải Thuần

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Ông Tống Khánh Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 66/2021/TLST-HNGĐ ngày 21/6/2021 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 44/2021/QĐ-TA ngày 08/7/2021 bao gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

  1. Anh Bùi Trường S, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh
  2. Chị Tôn Thương H, sinh năm 1993; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn P, xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Bùi Trương S trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Trường S và chị Tôn Thương H đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 09/3/2017 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn cho đến tháng 4/2017 thì anh S đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Từ đó, anh S và chị H xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân từ đó cho đến nay. Tháng 7/2017 chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm thấy tiếng nói chung trong cuộc sống. Do khoảng cách về địa lý, vợ chồng không thể thường xuyên bên nhau để chia sẻ, hàn gắn những mâu thuẫn thêm vào đó môi trường sống mới dẫn đến tình cảm ngày càng phai nhạt, mệnh ai nấy sống và không còn quan tâm đến nhau. Hiện nay, anh S đã về nước, chị H đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. Nay anh S nhận thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng nên mong muốn được ly hôn với chị H để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh S và chị H không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Chị Tôn Thương H trình bày bằng văn bản có nội dung thống nhất như trình bày của anh Bùi Trường S về quan hệ hôn nhân, con chung cũng như tài sản chung. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên chị H yêu cầu ly hôn với anh S. Ngoài ra, do điều kiện công việc không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn nên chị yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải và được xét xử vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết việc ly hôn, chị H ủy quyền việc giao nhận tài liệu, chứng cứ cho chị Tôn Thị T (chị gái chị H) địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, 55, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp; Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:

[1] Thủ tục tố tụng: Chị Tôn Thương H hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Theo thông tin cung cấp của Cục quản lý xuất nhập cảnh- Bộ công an số 14729/QLXNC-P5 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh thì chị Tôn Thương H đã xuất, nhập cảnh, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước, nên vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, Điều 37, Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015. Chị Tôn Thương H có đơn yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình xét xử và ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho chị Tôn Thị T (là chị gái chị H); địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt chị Tôn Thương H theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Trường S và chị Tôn Thương H đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 09/3/2017 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của anh Bùi Trường S và chị Tôn Thương H hạnh phúc được thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là quan điểm sống không hòa hợp, vợ chồng không còn tìm thấy tiếng nói chung dẫn đến tình cảm không còn, mục đích xây dựng hạnh phúc gia đình không đạt được. Nay, anh S và chị H đều tự nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và không mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ này.

Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân của anh Bùi Trường S và chị Tôn Thương H không đạt được mục đích đó.

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).

Như vậy, anh Bùi Trường S và chị Tôn Thương H đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.

[2.2] Quan hệ con chung: Không có con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu xem xét nên Tòa án miễn xét.

Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn của họ để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, 55, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 361, 367, 369, 370, 371, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 35, 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Bùi Trường S và chị Tôn Thương H.
  2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của anh Bùi Trường S (đã nộp 300.000đ tại biên lai số 0000194 ngày 18/6/2021 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).
  3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã C;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

THẨM PHÁN - CHỦ TRÌ PHIÊN HỌP

Nguyễn Hà Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 40/2021/QĐST-HNGĐ ngày 19/07/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn

  • Số quyết định: 40/2021/QĐST-HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Bùi Trường S và chị Tôn Thương H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger