|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Quyết định số: 39/2025/HS-GĐT Ngày 12 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
|
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:ông Nguyễn Xuân Thiện Các Thẩm phán:ông Phan Thanh Tùng bà Trần Thị Thu Thủy - Thư ký phiên tòa: bà Ngô Thị Phụng - Thẩm tra viên. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Võ Phong Lưu - Kiểm sát viên. Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử giám đốc thẩm đối với: |
- Nguyễn Minh T, sinh năm 1993 tại tỉnh Bến Tre; đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre; trình độ văn hoá: lớp 05/12; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tiền án: không; tiền sự: ngày 17/3/2021, bị Trưởng Công an huyện C, tỉnh Bến Tre xử phạt 15.000.000 đồng về hành vi khai thác cát, sỏi ngoài phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, hành lang bảo vệ luồng, phạm vi luồng, ngoài phạm vi bảo vệ công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, khối lượng khoáng sản (cát sông) đã khai thác 9,8 m³ (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20/QĐ-XPHC), chưa nộp phạt; nhân thân: ngày 09/12/2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không sử dụng vật liệu nổ công nghiệp về khai thác khoáng sản (cát sông) mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, khối lượng khoáng sản khai thác 12,636 m³ (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2979/QĐ-XPHC), nộp phạt ngày 10/12/2019; bị tạm giam ngày 07/6/2023.
- Nguyễn Văn T1, sinh năm 1973 tại tỉnh Bến Tre; đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp S, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre; trình độ văn hoá: không biết chữ; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tiền án: không; tiền sự: ngày 16/8/2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre xử phạt 15.000.000 đồng về hành vi khai thác cát, sỏi ngoài phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, hành lang bảo vệ luồng, phạm vi luồng, hoặc ngoài phạm vi bảo vệ công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, khối lượng khoáng sản (cát) đã khai thác 5,55 m³ (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2503/QĐ-XPVPHC) chưa nộp phạt; nhân thân: ngày 09/12/2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre xử phạt 4.000.000 đồng về hành vi khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không sử dụng vật liệu nổ công nghiệp về khai thác khoáng sản (cát sông) mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, khối lượng khoáng sản khai thác 12,636 m³ (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2978/QĐ-XPHC), nộp phạt ngày 10/12/2019; bị cáo tại ngoại.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 01 giờ 14 phút ngày 08/7/2022, bà Nguyễn Thị L gọi điện thoại cho Nguyễn Minh T và nhờ người sang nhà bảo Nguyễn Văn T1 đi làm (T và T1 là người làm thuê, chở cát san lấp mặt bằng cho bà L, biết bà L bảo đi làm là đi hút cát trái phép). Sau đó, T và T1 đến vị trí neo đậu ghe có gắn hệ thống bơm hút cát; cả hai xuống ghe gỗ để T1 điều khiển ghe chạy ra sông H. Khi còn cách bến phà T khoảng 100 mét thì T điều khiển ghe cặp vào đám bầu, bảo T1 cột dây vào cây bầu đợi có ghe khác ra hút cát thì T và T1 ra hút. Đợi khoảng 10 phút, thấy có người đi hút cát, T bảo T1 mở dây, điều khiển ghe ra giữa sông (tại vị trí có tọa độ X: 1135832, Y: 543892, thuộc địa phận xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre) rồi bảo T1 thả neo cố định ghe. T1 mồi nước vào ống bơm, T ra phía sau lái, đẩy ống hút cát xuống sông. Sau đó, T đi lên trước mũi ghe khởi động máy hút cát, T1 phụ kéo dây cho đầu sào đứng thẳng rồi bỏ xuống sông để hút cát từ đầu sào vào ống lên khoang chứa ghe gỗ.
T và T1 hút cát được khoảng 20 phút thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh B phát hiện, lập biên bản phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ gồm 8,88 m³ cát sông (mẫu cát sông được thu giữ đựng trong túi nylon, ký hiệu KS01-08/7/2022, được niêm phong), 01 phương tiện thủy (ghe gỗ) không biển kiểm soát, 01 động cơ máy chính nhãn hiệu KOMATSU, 01 động cơ máy nổ bơm hút cát nhãn hiệu ISUZU, 01 đầu bơm hút cát từ lòng sông lên khoang chứa phương tiện bằng kim loại, 01 đầu bơm hút cát từ khoang chứa cát lên bờ bằng kim loại, 01 đầu bơm nước bằng kim loại và 01 bộ tơi dùng để kéo, thả ống bơm hút cát.
Tại Bản kết luận giám định ngày 02/8/2022, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B kết luận: mẫu cát sông ký hiệu KS01-08/7/2022 gửi giám định được xác định là khoáng sản.
Tại Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐG ngày 16/9/2022, Hội đồng định giá tài sản tỉnh Bến Tre xác định 8,88 m³ cát sông trị giá 586.080 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 29/8/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự, trả về môi trường tự nhiên 8,88 m³ cát sông, mẫu cát sông thu giữ đựng trong túi nylon, ký hiệu KS01-08/7/2022, đã được niêm phong.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng khác, án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nên đã có hiệu lực pháp luật.
Ngày 13/01/2025, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre có Kiến nghị số 74/KN-CTHADS, đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về phần quyết định tuyên trả cát về môi trường lòng sông, theo hướng tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định pháp luật.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 65/QĐKN-VC3-V1 ngày 27/5/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án hình sự sơ thẩm nêu trên về phần quyết định xử lý vật chứng là 8,88 m³ cát sông và mẫu cát sông còn lại sau giám định để xét xử sơ thẩm lại theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1]. Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn T1 không được cấp phép khai thác khoáng sản theo quy định và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai thác khoáng sản (cát sông), chưa nộp phạt, chưa hết thời hạn 01 năm để được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, khoảng 02 giờ 20 phút ngày 08/7/2022, theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị L, T và T1 điều khiển ghe gỗ của bà L đến vị trí có tọa độ X: 1135832, Y: 543892 trên sông H, thuộc địa phận xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; thực hiện hành vi thả ống hút cát xuống sông, vận hành hệ thống bơm hút trái phép 8,88 m³ cát, trị giá 586.080 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết án Nguyễn Minh T và Nguyễn Văn T1 về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự, xử phạt mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù, là có căn cứ, đúng pháp luật.
-
[2]. Về xử lý vật chứng: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự tuyên trả về môi trường tự nhiên 8,88 m³ cát sông và mẫu cát sông được thu giữ đựng trong túi nilong, ký hiệu KS01-08/7/2022, được niêm phong.
Xét thấy, quyết định trên của Tòa án cấp sơ thẩm là chưa phù hợp, bởi vì việc tuyên trả lại cát về môi trường tự nhiên lòng sông không khả thi, gặp nhiều khó khăn trong quá trình tổ chức thi hành án. Mặt khác, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, thì “Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước”. Do đó, vật chứng là 8,88 m³ cát sông (sau khi trừ 20 kg mẫu phục vụ giám định) và mẫu cát sông còn lại sau giám định cần được tịch thu để Cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre bán đấu giá, nộp ngân sách Nhà nước.
- [3]. Do đó, có căn cứ chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 65/QĐKN-VC3-V1 ngày 27/5/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 382, khoản 3 Điều 388, Điều 391, Điều 396 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 65/QĐKN-VC3-V1 ngày 27/5/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về phần quyết định xử lý vật chứng “Trả lại tại tọa độ X: 1135832, Y: 543892 trên tuyến sông H thuộc địa giới hành chính xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre: 8,88 m³ cát sông (trừ 20kg mẫu phục vụ giám định); 01 (một) mẫu cát sông đựng trong túi nylon, ký hiệu KS01-08/7/2022, được dán niêm phong của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B (mẫu cát còn lại sau giám định). (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre)”.
- Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật.
- Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
|
Nơi nhận:
|
TM. ỦY BAN THẨM PHÁN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thiện |
Quyết định số 39/2025/HS-GĐT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về khai thác tài nguyên
- Số quyết định: 39/2025/HS-GĐT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ Điều 382, khoản 3 Điều 388, Điều 391, Điều 396 Bộ luật Tố tụng hình sự; 1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 65/QĐKN-VC3-V1 ngày 27/5/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2023/HS-ST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre về phần quyết định xử lý vật chứng “Trả lại tại tọa độ X: 1135832, Y: 543892 trên tuyến sông Hàm Luông thuộc địa giới hành chính xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre: 8,88 m3 cát sông (trừ 20kg mẫu phục vụ giám định); 01 (một) mẫu cát sông đựng trong túi nylon, ký hiệu KS01-08/7/2022, được dán niêm phong của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre (mẫu cát còn lại sau giám định). (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bến Tre với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre)”. 3. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định pháp luật. 4. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
