TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 389/2024/QÐST-HNGĐ | Cầu Giấy, ngày 30 tháng 10 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ
SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
Căn cứ Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 499/2024/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2024, về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” gồm những người tham gia tố tụng sau:
- Ông Bùi Mạnh D, sinh năm 1974;
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1982;
Nơi ĐKHKTT: Tổ C, phường T, quận C, thành phố Hà Nội; Hiện cư trú tại: Số G, ngõ A T, Tổ C, phường T, quận C, thành phố Hà Nội;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hôn nhân: Ông Bùi Mạnh D và bà Nguyễn Thị N kết hôn ngày 27/12/2010, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận C, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện. Hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Nay ông Bùi Mạnh D và bà Nguyễn Thị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của ông D và bà N là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với pháp luật nên cần được công nhận.
[2] Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Bùi Khánh C, sinh ngày 18/8/2007 và cháu Bùi Minh T, sinh ngày 24/02/2011. Ly hôn, ông bà thỏa thuận giao cả hai con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung ông bà tự giải quyết, không yêu cầu Toà án giải quyết.
[3] Về tài sản chung, công nợ: Ông Bùi Mạnh D và bà Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[4] Về lệ phí: Ông Bùi Mạnh D và bà Nguyễn Thị N phải chịu lệ phí giải quyết hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Xét thấy: Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày 22 tháng 10 năm 2024 Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy lập Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Bùi Mạnh D và bà Nguyễn Thị N.
- Về con chung: Giao cháu Bùi Khánh C, sinh ngày 18/8/2007 và cháu Bùi Minh T, sinh ngày 24/02/2011 cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn cấp dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông Bùi Mạnh D đến khi nào bà N có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.
Ông Bùi Mạnh D được quyền thăm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công nợ: Ông Bùi Mạnh D và bà Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về lệ phí Tòa án: Ông Bùi Mạnh D và bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng lệ phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí ông D đã nộp theo Biên lai số 0046565 ngày 22 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy. Ông Bùi Mạnh D và bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ lệ phí.
- Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Nguyễn Thị Thụ |
Quyết định số 389/2024/QÐST-HNGĐ ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY về thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 389/2024/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Bùi Mạnh D và bà Nguyễn Thị N kết hôn ngày 27/12/2010, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận C, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyện. Hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Nay ông Bùi Mạnh D và bà Nguyễn Thị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của ông D và bà N là hoàn toàn tự nguyện phù hợp với pháp luật nên cần được công nhận.
