|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 381/2024/HS-PT
Ngày: 31-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang.
Các Thẩm phán:
- Ông Phạm Viết Hùng
- Bà Nguyễn Thị Bích Vân
Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 351HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Lê Hoàng V có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 192/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Hoàng V sinh ngày 01/01/1979 tại Long An Thường trú: ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An Tạm trú: Nhà không số, tổ I, ấp A, xã V, huyện B, Thành phố H nghiệp: C nhân Trình độ học vấn: 6/12 Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn Đ bà Nguyễn Thị H; Bị cáo có vợ tên Võ Thị Thu T và 03 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2010 Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 35 phút ngày 16/01/2024, anh Bùi Chí T1 và anh Nguyễn Trí Đ1 là cán bộ Đội Cảnh sát giao thông trật tự, Công an huyện B được giao nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên tuyến đường V theo Kế hoạch số 07/KH-CSGT-TT ngày 12/01/2024 của Đội Cảnh sát Giao thông trật tự về kế hoạch công tác tuần được Ban chỉ đạo Công an huyện B phê duyệt. Khi anh T1 và anh Đ1 điều khiển xe mô tô đặc chủng biển số 59A1-012.35 tuần tra trên đường V thì phát hiện Lê Hoàng V điều khiển xe mô tô biển số 62P1-086.15 không đội mũ bảo hiểm và nghi vấn vi phạm nồng độ cồn. Khi đến trước địa chỉ A ấp A, xã V, huyện B, anh T1 và anh Đ1 ra hiệu lệnh yêu cầu dừng xe để kiểm tra nhưng V không chấp hành mà vẫn điều khiển xe mô tô biển số 62P1-086.15 bỏ chạy vào hẻm kế bên, nhưng khi di chuyển được khoảng 100 mét thì V dừng xe lại do hẻm cụt. Ngay lúc này, anh T1 điều khiển xe mô tô đặc chủng chạy theo đến vị trí V dừng xe, yêu cầu V xuất trình giấy tờ để kiểm tra, đo nồng độ cồn nhưng V không chấp hành và nói “Tôi bỏ lại xe cho mấy ông”. Sau đó, V bỏ lại xe và đi bộ ra lại đường V. Anh T1 điều khiển xe mô tô đặc chủng, còn anh Đ1 đẩy xe mô tô của V ra đến đầu đường V thì gặp lại Việt. Lúc này, anh T1 có giải thích Việt không chấp hành sẽ bị lập biên bản vi phạm hành chính ở mức cao nhất thì V có những lời nói xúc phạm, đồng thời, V dùng tay trái đánh 01 cái vào vai của anh T1 đang ngồi trên xe mô tô đặc chủng. Sau đó, anh T1 và anh Đ1 khống chế V rồi đưa về trụ sở Công an xã V để làm việc. Qua kiểm tra nồng độ cồn của V là 0,327mg/L và V không xuất trình được giấy phép lái xe. Công an xã V lập hồ sơ ban đầu và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện B thụ lý theo thẩm quyền.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện B, Lê Hoàng V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 192/HS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bố bị cáo Lê Hoàng V tội “Chống người thi hành công vụ.
Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng V (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, bị cáo Lê Hoàng V đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Hoàng V giữ nguyên nội dung kháng cáo nêu trên. Đồng thời khai nhận hành vi chống người thi hành công vụ như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Bị cáo chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để đi làm nuôi vợ, 03 con nhỏ, trong đó có một con sinh năm 2002 thuộc diện khuyết tật đặc biệt nặng do mắc bệnh bại não.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên xét nhân thân bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính đang nuôi 03 người con, trong đó có 01 con là người bị khuyết tật đặc biệt nặng có xác nhận của địa phương nên đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo. Từ đó, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Bị cáo Lê Hoàng V tự bào chữa: Bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai phạm của mình, xin được hưởng khoan hồng của pháp luật để được lao động nuôi gia đình, các con còn nhỏ.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng V về nội dung quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện B Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Căn cứ lời khai của bị cáo Lê Hoàng V phiên tòa phúc thẩm, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
[3.1] Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/01/2024, tại trước địa chỉ A đường V, Tổ B, Ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, khi bị tổ tuần tra giao thông Công an huyện B yêu cầu kiểm tra hành chính do bị cáo Lê Hoàng V không đội mũ bảo hiểm và có dấu hiệu vi phạm nồng độ cồn thì bị cáo đã có hành vi dùng vũ lực cùng những lời lẽ xúc phạm đối với anh Bùi Chí T1 nhằm cản trở anh T1 thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, tuần soát bảo đảm trật tự an toàn giao thông theo Kế hoạch số 07/KH-CSGT-TT ngày 12/01/2024 của Đ2, Công an huyện B.
[3.2] Hành vi nêu trên của Lê Hoàng V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ”. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số: 192ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện B đã căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[4] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Lê Hoàng V, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4.1] Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để quyết định mức hình phạt 12 tháng tù đối với bị cáo V. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo trình bày bản thân là lao động chính, đang nuôi 02 con chưa thành niên (sinh năm 2008 và năm 2010) và 01 con đã thành niên (sinh năm 2002) nhưng mắc bệnh bại não, đang hưởng trợ cấp xã hội đối với người bị khuyết tật đặc biệt nặng để cân nhắc, áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên xét có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm và giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.
[4.2] Đối với nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo V, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét hành vi chống người thi hành công vụ mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến tính đúng đắn của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước trong lĩnh vực giao thông đường bộ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo V mà buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập trở thành người có ích cho xã hội mới đảm bảo nguyên tắc xử lý người phạm tội theo quy định tại Điều 3 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Hoàng V và sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng V 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hương Giang |
Quyết định số 381/2024/HS-PT ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về chống người thi hành công vụ
- Số quyết định: 381/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO LÊ VĂN H BỊ TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM XỬ PHẠT 06 THÁNG TÙ VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
