|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 38/2024/HS- ST
Ngày 26-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Đình Cự.
- Bà Nguyễn Thị Là.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thuận Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với:
1. Bị cáo: Khổng Văn V - SInh năm 1997; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Ph QN, xã Q Ng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Khổng Văn Nh (đã chết) và bà Trần Thị L, sIh năm 1978; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Có thời gian tham gia quân ngũ từ tháng 02/2016 đến tháng 01/2018 xuất ngũ về địa phương; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023.
2. Người làm chứng: Anh Khổng Văn Nh - SInh năm 1997.
Nơi cư trú: Thôn Phương Quả Nam, xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
3. Người chứng kiến:
- Ông Vũ Xuân I - Sinh năm 1955.
Nơi cư trú: Thôn Ph N, xã L Gia, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
- Ông Trần Duy Th – Sinh năm 1973.
Nơi cư trú: Thôn H N, xã L Gi, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
(Có mặt bị cáo; Vắng mặt anh Nh, ông I, ông Thắng)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, Khổng Văn V đi bộ từ nhà sang nhà Khổng Văn Nh là bạn cùng thôn gần nhà và nhờ Nh chở sang huyện Đông Hưng để đi có việc, V không nói cho Nh biết việc V đi mua ma túy. Nh lấy xe mô tô của Nh chở V theo hướng đi cao tốc Thái Hà rẽ vào xã Đông Đô, huyện Hưng Hà để đi sang xã Lô Giang, huyện Đông Hưng, khi đi đến khu vực ngã ba gần Uỷ ban nhân dân xã Lô Giang thì V xuống xe, hẹn Nh một lát nữa quay lại đón còn V đi bộ lên khu vực cầu Đình Thượng, V gặp một người đàn ông như bạn bè mô tả đeo khẩu trang, không biết tên, địa chỉ đứng ở cạnh bờ sông, chân cầu Đình Thượng, V lại gần hỏi “Anh ơi có bán cho em 500.000 đồng ma túy đá” rồi đưa tiền cho người này, người này nhận tiền và đưa lại cho V 01 gói ma túy bên ngoài là túi nilon trong suốt có mép cài nhựa viền màu xanh, V cầm gói ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay trái rồi đi bộ theo hướng vào xã Lô Giang để đợi Nh quay về đón, khi ra đến nơi thì cùng lúc đó Nh quay lại đón V, cả hai đi được một đoạn đến khu vực thôn Hoàng Nông, xã Lô Giang, huyện Đông Hưng thì bị tổ công tác của Công an huyện Đông Hưng phát hiện, nghi ngờ có liên quan đến ma túy, yêu cầu Nh dừng xe lại để kiểm tra. Cơ quan Công an đã mời ông Vũ Xuân I và ông Trần Duy Th chứng kiến, V đã tự nguyện lấy từ lòng bàn tay trái giao nộp cho tổ công tác 01 gói ma túy bên ngoài là túi nilon trong suốt có mép cài nhựa viền màu xanh, mở ra kiểm tra bên trong có chứa chất dạng tinh thể trong suốt. V khai là ma túy đá vừa mua về để sử dụng. Nh khai không biết việc V đi mua ma túy và cất giấu ma túy trong người, V chỉ nhờ Nh chở sang Đông Hưng có việc cá nhân nên Nh đã chở đi, V đi đâu làm gì Nh không biết. Tổ công tác đã đưa V, Nh cùng vật chứng và mời những người chứng kiến về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Lô Giang, huyện Đông Hưng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và lập biên bản quản lý, niêm phong vật chứng theo quy định.
Bản kết luận giám định số 1975/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại MethamphetamIe, có khối lượng 0,2518 gam”.
Bản cáo trạng số 35/CT-VKSĐH ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng truy tố bị cáo Khổng Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Khổng Văn V thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã kết luận và bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố: Bị cáo Khổng Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Khổng Văn V từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của Khổng Văn V được hoàn lại sau giám định.
- - Về án phí: Bị cáo Khổng Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án nhẹ Nh để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Khổng Văn V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 15/12/2023, tại khu vực cầu Đình Thượng, xã Lô Giang, huyện Đông Hưng bị cáo mua của một người đàn ông khoảng 35 tuổi không rõ tên, địa chỉ 01 gói ma túy loại Methamphetamle với giá 500.000 đồng, mục đích về sử dụng. Khi bị cáo đi về đến khu vực thôn Hoàng Nông, xã Lô Giang thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng bắt quả tang thu giữ tang vật.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến. Ngoài ra còn được chứng mIh bằng các tài liệu: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Đông Hưng lập hồi 10 giờ 25 phút ngày 15/12/2023; Biên bản niêm phong đồ vật; Bản ảnh vật chứng; Bản kết luận giám định số 1975/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[4] Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Khổng Văn V mua khối lượng 0,2518 gam Methamphetamle, mục đích để sử dụng đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố là đúng pháp luật.
Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Herole, Cocale, MethamphetamIe, AmphetamIe, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc Nh định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[5] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, làm mất trật tự trị an xã hội, việc sử dụng ma tuý là nguồn gốc lây nhiễm căn bệnh HIV-AIDS, làm suy yếu sức khoẻ con người và là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác, do đó cần xử phạt bị cáo mức án phù hợp với hành vi phạm tội cua bị cáo nhằm răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[6.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và có thời gian tham gia quân đội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần xử phạt cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian Nh định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy mục đích về sử dụng. Khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ không lớn, bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về vật chứng vụ án:
[9.1] Số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Quá trình điều tra không xác định được người bán ma túy cho bị cáo là ai, do đó không có căn cứ để điều tra xử lý là đúng pháp luật.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy đIh của pháp luật.
[12] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Khổng Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Khổng Văn V 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,1995 gam Methamphetamle thu giữ của bị cáo Khổng Văn V hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1795/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình có đặc điểm như trong Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Bị cáo Khổng Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Khổng Văn V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Thị Phương Thảo |
Quyết định số 38/2024/HS- ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số quyết định: 38/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khổng Văn Vĩ- Tàng trữ trái phép chất ma túy
