TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Số: 38/2025/QÐST-HC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Đồng Nai, ngày 12 tháng 6 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
Căn cứ vào khoản 5 Điều 38, Điều 143 và Điều 144 của Luật tố tụng hành chính;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm;
Xét thấy: Ngày 30/7/2024, ông Nguyễn Đ nộp đơn khởi kiện, đề nghị Tòa án tuyên hành vi trả hồ sơ không tiếp nhận giải quyết và thực hiện thủ tục đăng bộ sang tên hợp đồng tặng cho của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cho ông là trái quy định pháp luật, kèm theo đơn khởi kiện ông Đ nộp kèm theo biên bản xác minh ngày 27/3/2022 (bản sao có chứng thực).
Theo đơn khởi kiện, ông Đ trình bày: Nguồn gốc đất là do vào năm 1984 hai vợ chồng ông bà tới lập nghiệp tại xã B đến năm 1985 thì hai vợ chồng ông bà có khai hoang được một số diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm với diện tích khoảng 9 sào (9.000m²), năm 1989 gia đình có mua thêm khoảng 4 sào (4.000m²) đất để sản xuất nông nghiệp tổng diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm hiện gia đình đang sử dụng qua đo đạc thực tế là 13.081,5m². Đến năm 1997 vợ chồng ông bà được nhà nước cho kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0841215 do UBND huyện L cấp ngày 14/11/2001 với tổng diện tích được công nhận là 11.512m² thuộc hai thửa đất số 498, tờ bản đồ số 5 diện tích là 7.795m² và thửa đất số 499, tờ bản đồ số 5 diện tích là 3.717m².
Năm 2016, vợ chồng ông bà được cho cấp đổi mới Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CE 997234 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 12/12/2016 và cho gộp hai thửa nêu trên thành thửa số 56, tờ bản đồ số 12 đồng thời công nhận tổng diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm hiện gia đình đang sử dụng qua đo đạc thực tế là 13.081,5m². Từ khi đến khai hoang lập nghiệp cho đến khi được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và cho đến nay đối với diện tích đất nói trên thì vợ chồng ông bà luôn sử dụng ổn định và tuân thủ mọi nghĩa vụ về thuế và không có bất kỳ tranh chấp với cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào khác liên quan đến thửa đất nói trên và gần đây nhất là vào ngày 11/12/2021 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L cho vợ chồng ông bà gia hạn được tiếp tục sử dụng đất đến ngày 14/11/2071 theo hồ sơ số 000639.GH.014.
Do tuổi cao sức yếu, vợ chồng ông bà có làm thủ tục chuyển QSDĐ lại cho con trai là ông Nguyễn Bá V nhưng khi nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa tại Văn phòng Đăng ký đất đai huyện L thì bộ phận tiếp nhận đã trả lại hồ sơ với lý do thửa đất này có một phần diện tích “thuộc quy hoạch đất rừng” do Ban Q quản lý và yêu cầu liên hệ UBND xã giải quyết. Cũng bởi chính lý do này ngày 14/03/2022 ông bà có gửi đơn đến UBND xã B yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất với Ban Q, đến ngày 27/04/2022 UBND xã B có mời hai bên để tiến hành hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất.
Tại buổi hòa giải căn cứ theo Biên bản xác minh của UBND xã B lập ngày 27/03/2022 sau khi được xác minh đối chiếu với Sổ mục kê khai đất đai năm 2007 và Hồ sơ cắm mốc năm 2013 của UBND xã B thì xác định phần đất tranh chấp với diện tích là 3.717m² (Thửa 499, tờ bản đồ số 5) nay thuộc một phần thửa đất số 56, tờ bản đồ số 12 nằm tại mốc LT161 nằm ngoài ranh giới của Ban Q và không thuộc quyền quản lý sử dụng của Ban Q.
Đại diện theo ủy quyền của ông Đ là ông Bùi Hiền Đ1 trình bày tại biên bản làm việc ngày 30/5/2025 về căn cứ ông Đ khởi kiện hành vi hành chính của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ là Phiếu trả hồ sơ (không giải quyết) thực hiện thủ tục hành chính số 671/PTr – ĐKTK ngày 02/3/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L. Sau khi nhận phiếu trả hồ sơ số 671/PTr – ĐKTK ngày 02/3/2022 thì ông đến Ủy ban nhân dân xã B yêu cầu giải quyết tranh chấp, đến ngày 27/4/2022, Ủy ban nhân dân xã B có mời hai bên (ông Đ và Ban Q) lên hòa giải. Sau đó ông đi khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành nhưng do không đúng thẩm quyền nên ông rút đơn và khởi kiện lại tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, được thụ lý giải quyết số 154/2023/TLST-DS ngày 30/11/2023 (do thẩm phán Lê Thị K giải quyết). Sau khi Tòa án nhân dân tỉnh thu thập tài liệu chứng cứ thì thể hiện rõ thửa đất của ông Đường K1 thuộc vào đất của rừng phòng hộ Q (theo biên bản xác minh ngày 27/3/2022) nên ông rút đơn khởi kiện vụ án dân sự và Tòa án tỉnh đình chỉ giải quyết theo Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 15/2025/QÐST-DS ngày 07/3/2025.
Lý do đến thời ngày 30/7/2024 ông Đ mới khởi kiện vụ án hành chính là do khi nhận được Phiếu trả hồ sơ (không giải quyết) thực hiện thủ tục hành chính số 671/PTr – ĐKTK ngày 02/3/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L ông không hề biết hành vi sai trái của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ. Sau khi thực hiện việc nộp hồ sơ xin trích lục hồ sơ nguồn gốc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ và sau đó Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L trả kết quả vào ngày 10/6/2023 thì ông Nguyễn Đ mới nhận thấy hồ sơ nguồn gốc cấp GCN QSD đất của ông là hoàn toàn hợp pháp và đúng quy định pháp luật, nhận thấy hành vi không tiếp nhận giải quyết và thực hiện thủ tục đăng bộ sang tên hợp đồng tặng cho của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ cho ông là trái quy định pháp luật nên ông Đ đã nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính vào ngày 30/7/2024.
Theo quy định tại điểm a khoản 2 điều 116 Luật tố tụng hành chính quy định, thời hiệu khởi kiện là “01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc”. Như vậy, kể từ ngày 27/3/2022, ông Đ đã biết quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm, tuy nhiên ông Đường không khởi kiện đối với hành vi trả hồ sơ không tiếp nhận giải quyết và thực hiện thủ tục đăng bộ sang tên hợp đồng tặng cho của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ mà tiến hành khởi kiện vụ án dân sự. Đến ngày 30/7/2024, ông Đ nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính là đã hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
- Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số 27/2025/TLST-HC ngày 10 tháng 02 năm 2025 về việc: “Khiếu kiện quyết hành chính trong lĩnh vực đất đai” giữa:
- - Người khởi kiện: Ông Nguyễn Đ, sinh năm 1960.
- Địa chỉ: Ấp G, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi Hiền Đ1, sinh năm 1972.
- Địa chỉ: Số B, đường số B, khu phố B, phường A, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh, điện thoại số: 0908.396.xxx.
- - Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
- Địa chỉ: Số B, đường P, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án.
- Về án phí: Căn cứ điều 12, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Nguyễn Đường K1 phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
- Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc kể từ ngày Quyết định này được niêm yết công khai theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Nguyễn Văn Nam |
Quyết định số 38/2025/QÐST-HC ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về khiếu kiện quyết hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Số quyết định: 38/2025/QÐST-HC
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn D Khiếu kiện quyết hành chính trong lĩnh vực đất đai với VPDK Đất đai tỉnh Đ