TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 38/2024/HS-ST Ngày: 06/9/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Lê Lân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tấn Đạt.
- Bà Nguyễn Thị Dung.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Đặng Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thành T; tên gọi khác: Chút; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 06/10/1981 tại P, Bình Định; Nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Phạm Ngọc C, sinh năm: 1944 (đã chết) và bà Phan Thị M, sinh năm: 1954; Vợ: Dư Thị Thanh P, sinh năm: 1984; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định từ ngày 18/6/2024 cho đến nay.
(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
- - Anh Phạm Hoàng N, sinh năm: 1982; (có mặt)
- Nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.
* Người làm chứng:
- - Ông Huỳnh Ngọc H, sinh năm: 1963; (có mặt)
- Nơi cư trú: Thôn G, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thành T (sinh năm: 1981) và Phạm Hoàng N (sinh năm: 1982) – là anh em cùng cha khác mẹ, cùng sinh sống ở thôn H, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.
Bực tức về việc N tự ý đem máy cày đi sửa (máy cày là của cha ruột chết để lại) nên T điều khiển xe mô tô đến nhà N để hỏi chuyện. Khi T đến nhà thì không thấy N nên T nghĩ N ở trong rẫy nên đi vào rẫy tìm. T vào rẫy của mình lấy 01 cây rựa dài 161 cm, cán gỗ dài 121cm, lưỡi kim loại màu nâu đen dài 40cm, nơi rộng nhất 05cm, mũi nhọn, cong; rồi điều khiển xe mô tô qua rẫy của N. Khi đến nơi chỉ thấy Nguyễn Thị Ánh H1 (sinh năm: 1981, là em dâu) ở đó nên T tiếp tục đến rẫy Huỳnh Ngọc H (sinh năm: 1963) ở thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định để tìm N. Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 02/3/2024, khi đến nơi T thấy N đang ngồi uống trà cùng ông H ở trên phản trong lán trại. Khi thấy N, T hỏi: “Ông chở cái máy cày của ông già đi đâu?” N nói: “Tao làm gì kệ tao, mầy hỏi chỉ”. Nghe vậy, T cầm rựa lao tới thì N chạy về phía cửa phụ ở phía Đông lán trại. T cầm rựa bằng hai tay đuổi theo N chạy vòng quanh trại, T tiếp tục đuổi theo N chạy khoảng 04 vòng quanh lán trại thì chặn được N ở phía sau lán trại. T đứng đối diện Non cách nhau khoảng 1,5m, T cầm rựa chém từ trên xuống, N giơ tay trái lên đỡ thì phần lưỡi sát khâu rựa trúng cẳng tay trái làm rách da chảy máu. Bị chém trúng, N bỏ chạy thì T đi về. Hậu quả: Phạm Hoàng N bị thương xây xát da ở hông phải và rách da chảy máu ở căng tay trái nhập viện điều trị tại Trung tâm y tế huyện P, tỉnh Bình Định đến ngày 06/3/2024 thì xuất viện.
Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 67/24/KLTTCT-PYBĐ ngày 08/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với Phạm Hoàng N, xác định thương tích như sau:
- - Vết xây xát cẳng tay trái không tổn thương trên phim chụp cẳng tay trái đã điều trị. Hiện cẳng tay trái đoạn 1/3 dưới – trong vết xây xát để sẹo kích thước (01x0,3)cm.
- - Vết xây xát da vùng lưng phải đã điều trị. Hiện vùng lưng phải để sẹo kích thước (1,5x0,5)cm.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Hoàng N tại thời điểm giám định là: 02%.
* Về trách nhiệm dân sự: Phạm Hoàng N yêu cầu Phạm Thành T bồi thường số tiền 32.585.000 đồng. Phạm Thành T đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho Phạm Hoàng N số tiền 10.000.000 đồng.
* Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tạm giữ và chuyển giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát bảo quản: 01 (một) cây rựa có đặc điểm: dài 161 cm, cán gỗ dài 121cm, lưỡi kim loại màu nâu đen dài 40cm, nơi rộng nhất 05cm, mũi nhọn, cong.
(Có đặc điểm như biên bản giao nhận tài liệu, vật chứng ngày 20/8/2024).
Tại bản Cáo trạng số: 39/CT-VKSPC, ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Phạm Thành T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Thành T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của BLHS năm 2015 và không có thay đổi bổ sung gì thêm.
* Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Phạm Thành T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”
* Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS năm 2015 để xử phạt bị cáo Phạm Thành T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.
* Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX áp dụng các quy định của pháp luật để buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng theo các khoản chi phí có chứng từ và chính đáng.
* Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây rựa có đặc điểm: dài 161 cm, cán gỗ dài 121cm, lưỡi kim loại màu nâu đen dài 40cm, nơi rộng nhất 05cm, mũi nhọn, cong.
Tại phiên tòa, trong phần tự bào chữa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Trong phần tranh luận, bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận. Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 10.000.000 đồng. Trong lời nói sau cùng, bị cáo Phạm Thành T thực sự ăn năn, hối cải, gửi lời xin lỗi đến bị hại và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1]. Xét về mặt thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: ở các giai đoạn tố tụng này, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được đảm bảo, các nguyên tắc trong tố tụng hình sự được tôn trọng và thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật hình sự.
[2]. Xét nội dung của vụ án và hành vi của bị cáo thực hiện, tính chất nguy hiểm của hành vi, HĐXX thấy rằng:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi diễn biến của vụ án như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo trước Tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở chứng cứ và yếu tố pháp lý kết luận:
Xuất phát từ mâu thuẫn trong việc tranh chấp máy cày do cha ruột (đã chết) để lại nhưng chưa được giải quyết ổn thỏa nên giữa hai anh em cùng cha khác mẹ đã xảy ra mâu thuẫn. Vào ngày 02/3/2024, Phạm Thành T đã sử dụng cây rựa (là hung khí nguy hiểm) gây thương tích cho Phạm Hoàng N với tỷ lệ tổn thương để lại trên cơ thể là 02% tại thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương nên cần phải xử lý theo pháp luật hình sự.
Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Thành T đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, thuộc trường hợp: Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó, HĐXX xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Phạm Thành T về tội “Cố ý gây thương tích” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng:
Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, ông ngoại bị cáo là liệt sỹ, bị cáo đã từng là chiến sĩ dự bị tại cơ quan Quân sự huyện P nên HĐXX xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy, tỷ lệ tổn thương trên cơ thể do bị cáo gây nên là không đáng kể nên HĐXX thấy rằng không cần cách ly bị cáo ra
ngoài xã hội mà áp dụng Điều 65 BLHS để xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng phù hợp với nhận định trên nên được HĐXX chấp nhận.
[4]. Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp khác:
[4.1]. Về trách nhiệm dân sự.
Bị hại Phạm Hoàng N yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe với tổng số tiền là 32.585.000 đồng (trong đó các khoản thiệt hại có chứng từ: 785.000 đồng; các khoản thiệt hại không có chứng từ: 31.800.000 đồng). Bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho Phạm Hoàng N số tiền 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo chấp nhận bồi thường thiệt hại cho bị hại những chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, các khoản chi phí có chứng từ và thiệt hại thực tế xảy ra, không chấp nhận bồi thường toàn bộ theo yêu cầu của người bị hại.
Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bị hại, ý kiến của các bên, HĐXX thấy rằng:
[4.1.1]. Đối với những khoản thiệt hại có chứng từ: Sau khi bị thương, ngày 02/3/2024 anh N được đưa đến Trung tâm y tế huyện P, tỉnh Bình Định khám và điều trị thương tích đến ngày 06/3/2024 thì được ra viện. Tổng các khoản thiệt hại có chứng từ anh N yêu cầu là 785.000 đồng. Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được và anh N cung cấp thì thấy rằng, tổng chi phí điều trị thương tích của anh N đã thanh toán cho Trung tâm y tế huyện P, tỉnh Bình Định là: 785.000 đồng. Đây là những chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, thiệt hại thực tế xảy ra nên Tòa án buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh N số tiền 785.000 đồng.
[4.1.2] Đối với những khoản thiệt hại không có chứng từ:
- - Chi phí đi lại đến Trung tâm y tế huyện P để khám và điều trị là 200.000 đồng;
- - Thu nhập thực tế bị trong thời gian điều trị nội trú (từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/3/2024) là 04 ngày x 200.000 đồng/ngày = 800.000 đồng;
- - Tiền ăn uống trong 04 ngày nằm viện điều trị x 100.000 đồng/ngày = 400.000 đồng;
- - Một khoản tiền để bù đắp tổn thất tinh thần là 10.000.000 đồng, HĐXX xét thấy thương tích của bị hại là 02% nên HĐXX chỉ chấp nhận buộc bị cáo phải bồi thường 03 lần mức lương cơ bản do Nhà nước quy định 03 x 2.340.000 đồng = 7.020.000 đồng.
- - Tiền cấp dưỡng của người chăm sóc 02 ngày là 400.000 đồng: Xét thương tích của bị hại không đáng kể, không ảnh hưởng đến việc đi lại, có thể tự chăm sóc nên HĐXX không chấp nhận.
- - Tiền thiệt hại về kinh tế do không thể chăm sóc cây trồng trong những ngày điều trị thương tích là 20.000.000 đồng, bị hại không đưa ra căn cứ, tại phiên tòa bị hại không chứng minh được nên HĐXX không chấp nhận. Nếu như có cơ sở để khởi kiện và có chứng từ thiệt hại chứng minh được thì có thể khởi kiện thành một vụ án khác; đồng thời kèm theo tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp để Tòa án xem xét.
Từ những nhận định trên, HĐXX xét buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Phạm Hoàng N tổng cộng là 9.205.000 đồng. Trong đó, bị cáo đã bồi thường cho bị hại 10.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo chấp nhận số tiền đã bồi thường nên xem như đã bồi thường xong nên HĐXX không xem xét.
[4.2]. Về xử lý vật chứng: Đã thu giữ: 01 (một) cây rựa có đặc điểm: dài 161 cm, cán gỗ dài 121cm, lưỡi kim loại màu nâu đen dài 40cm, nơi rộng nhất 05cm, mũi nhọn, cong hiện đang tạm giữ tại Chi cục THADS huyện P, tỉnh Bình Định; xét thấy vật chứng này là công cụ trực tiếp liên quan đến vụ án nên tịch thu, tiêu hủy.
[5]. Về án phí: Căn cứ theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Phạm Thành T phải chịu án phí HSST sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thành T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phạm Thành T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án 06/9/2024.
Giao bị cáo Phạm Thành T cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
3. Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
3.1. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng xem như đã bồi thường xong.
3.2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cây rựa có đặc điểm: dài 161 cm, cán gỗ dài 121cm, lưỡi kim loại màu nâu đen dài 40cm, nơi rộng nhất 05cm, mũi nhọn, cong.
(Đặc điểm các vật chứng nêu trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/8/2024, hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định).
4. Về án phí: Bị cáo Phạm Thành T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Lê Lân |
Quyết định số 38/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số quyết định: 38/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PHẠM THÀNH T - CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
