Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Số: 376/2020/QĐST – HNGĐ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Quận 2, ngày 08 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ

Căn cứ Điều 212, 213, 361 và Điều 397 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 55, 57, Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Phí và Lệ phí năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số: 495/2020/TLST-HNGĐ ngày 20/11/2020 về “Thuận tình ly hôn”, về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu:

  1. Ông Khúc Danh K, sinh năm: 1989
    Địa chỉ: Đường A, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm: 1995
    Địa chỉ: Đường A1, phường B1, Quận C1, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về xác định yêu cầu và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Ông Khúc Danh K và bà Nguyễn Thị Mỹ L có yêu cầu thuận tình ly hôn, do đó yêu cầu của ông K và bà L là yêu cầu về thuận tình ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do người yêu cầu có nơi cư trú tại Quận 2 nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về các yêu cầu của các đương sự:

Căn cứ các bản tự khai, biên bản hòa giải có trong hồ sơ vụ việc, Tòa án nhân dân Quận 2 nhận thấy:

Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 46 ngày 09/9/2016 tại Ủy ban nhân dân phường Phú Hữu, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh thì quan hệ hôn nhân giữa ông Khúc Danh K và bà Nguyễn Thị Mỹ L là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Ông K và bà L tự nguyện kết hôn và chung sống với nhau từ năm 2016. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm về tiền bạc, tình cảm, cả hai không tìm được nói tiếng chung. Ông K, bà L đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được do mâu thuẫn đã quá trầm trọng. Đến cuối năm 2019 thì bà L và ông K đã sống ly thân. Hiện nay bà L bà ông K không còn tình cảm gì với nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa ông K và bà L là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc ông K, bà L cùng thỏa thuận yêu cầu thuận tình ly hôn là có cơ sở xem xét chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Khúc Danh K có 01 con chung tên Khúc Nhã P, sinh ngày: 30/11/2017. Bà L và ông K cùng thỏa thuận giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, ông K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng, các bên giao nhận trực tiếp vào ngày 10 dương lịch hàng tháng, bắt đầu thi hành từ ngày 10/12/2020 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông K cùng xác nhận không có.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ L tự nguyện chịu lệ phí 300.000 đồng.

Xét thỏa thuận nêu trên của ông K, bà L là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với nhà nước hoặc với người thứ ba. Do đó, công nhận sự thỏa thuận nêu trên của ông K, bà L là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Khúc Danh K và bà Nguyễn Thị Mỹ L thuận tình ly hôn.

Giấy chứng nhận kết hôn số 46 ngày 09/9/2016 do Ủy ban nhân dân phường Phú Hữu, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 09/9/2016 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày Tòa án ban hành quyết định.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Mỹ L và ông Khúc Danh K thỏa thuận giao con chung Khúc Nhã P, sinh ngày: 30/11/2017 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, ông K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), các bên giao nhận trực tiếp vào ngày 10 dương lịch hàng tháng, bắt đầu thi hành từ ngày 10/12/2020 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

Các bên thi hành dưới sự giám sát của Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông K cùng xác nhận không có.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về lệ phí:

Lệ phí việc dân sự sơ thẩm là: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị Mỹ L tự nguyện chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0028219 do Chi cục Thi hành án dân sự quận 2 lập ngày 20/11/2020. Bà L đã nộp đủ lệ phí, ông K không phải nộp lệ phí.

3. Về nghĩa vụ và quyền yêu cầu thi hành án:

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:
- Các đương sự;
- Viện kiểm sát nhân dân Quận 2;
- Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2;
- UBND phường Phú Hữu, Quận 9;
- Lưu hồ sơ vụ án.
THẨM PHÁN


(Đã ký)


Nguyễn Trung Thực
THÔNG TIN BẢN ÁN

Quyết định số 376/2020/QĐST – HNGĐ ngày 08/12/2020 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh về công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự

  • Số quyết định: 376/2020/QĐST – HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2020
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thuận tình ly hôn giữa ông K và bà L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger