|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 371/2024/QÐST-HNGĐ |
Quận Hai Bà Trưng, ngày 14 tháng 6 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ khoản 2 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm h khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 397, Điều 212 và Điều 213 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí;
Căn cứ khoản 3 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH4 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ việc dân sự thụ lý số 381/2024/TLST-VHNGĐ ngày 03/6/2024 về việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thoả thuận nuôi con và chia tài sản khi ly hôn của những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
- Chị Lê Diệu L; sinh năm 1991; Hộ khẩu thường trú và cư trú: 44, phố C, quận H, thành phố Hà Nội;
- Anh Nguyễn Xuân S; sinh năm 1991; Hộ khẩu thường trú và cư trú: Số 132 ngõ 136, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Chị Lê Diệu L và anh Nguyễn Xuân S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 12/8/2014 tại Ủy ban nhân dân phường H, quận K, thành phố Hà Nội. Theo anh chị trình bày: Trước khi kết hôn, anh chị đều chưa kết hôn lần nào. Sau khi kết hôn, chị L và anh S chung sống tại 132 ngõ 136, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội. Anh chị chung sống đến đầu năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên không hợp nhau về tính cách, quan điểm và lối sống, nên cả hai thường nảy sinh bất đồng. Anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Mặc dù anh chị và gia đình hai bên đã hoà giải nhưng mẫu thuẫn giữa anh chị vẫn không thể giải quyết được. Nay anh chị cùng xác nhận không còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cùng có nguyện vọng được thuận tình ly hôn.
Quá trình giải quyết yêu cầu của chị Lê Diệu L và anh Nguyễn Xuân S, Tòa án đã tiến hành hòa giả để vợ chồng đoàn tụ; giải thích về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên trong gia đình, về trách nhiệm cấp dướng và các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân gia đình. Tuy nhiên chị L và anh S không đồng ý đoàn tụ, hai bên thuận tình lý hôn và đã thỏa thuận với nhau về các nội dung: tài sản, vay nợ, về con bà nghĩa vụ chịu lệ phí giải quyết việc dân sự như được ghi nhận tại Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành lập ngày 06/6/2024.
Xét thấy việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của chị Lê Diệu L và anh Nguyễn Xuân S tại Biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành lập ngày 06/6/2024 là hoàn toàn tự nguyện, bảo đảm quyền lợi chính đáng của các bên và không vi phạm điều cầm của luật, không trái đạo đức xã hội. Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản, không có được sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Diệu L và anh Nguyễn Xuân S cùng xác nhận mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên thuận tình ly hôn.
1.2. Về con chung: Chị Lê Diệu L và anh Nguyễn Xuân S cùng xác nhận có hai con chung là:
- Nguyễn Thế B, sinh ngày 02/08/2015, giới tính nam;
- Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 13/11/2019, giới tính nữ.
Hiện sức khỏe các con chung bình thường, phát triển tốt. Anh chị thoả thuận sau ly hôn, chị Lê Diệu L là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục hai con chung là Nguyễn Thế B và Nguyễn Ngọc D kể từ khi ly hôn cho đến khi các con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi có sự thay đổi khác về người trực tiếp nuôi con.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Xuân S có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc các con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi hai con chung: Chị Lê Diệu L và anh Nguyễn Xuân S tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xét.
1.3. Về tài sản chung (bao gồm động sản và bất động sản): Chị Lê Diệu L và anh Nguyễn Xuân S xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án không xét.
1.4. Về vay nợ chung: Chị Lê Diệu L và anh Nguyễn Xuân S xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Tòa án không xét.
1.5. Về lệ phí: Chị Lê Diệu L và anh Nguyễn Xuân S thỏa thuận chị L là người chịu cả 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết yêu cầu về hôn nhân gia đình, được trừ vào số tiền lệ phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003688 ngày 03/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng.
2. Quyết định này có hiệu lục pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
|
* Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Thị Phương Thủy |
Quyết định số 371/2024/QÐST-HNGĐ ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về công nhận thuận tình ly hôn
- Số quyết định: 371/2024/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Công nhận thuận tình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Việc ly hôn giữa anh Nguyễn Xuân S và chị Lê Diệu L
