TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 37/2024/DS-ST
Ngày: 24-7-2024
V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Quân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đình Đậu;
- Ông Đào Văn Kiểm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2024/QĐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1; địa chỉ: Số B - B N, phường V, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP S1;
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trần S - chức vụ : Giám đốc Ngân hàng TMCP S1 - chi nhánh P (theo Văn bản ủy quyền ngày 25/12/2023);
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Ngọc T – chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ tham gia tố tụng (Theo Văn bản ủy quyền ngày 01/01/2024), có mặt;
Bị đơn: Anh Phạm Anh T1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ E, khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T trình bày: Ngày 03/09/2019, ông Phạm Anh T1 có đề nghị Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh P (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) mở thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 03/09/2019, hạn mức đề xuất là: 100.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng), mục đích vay để tiêu dùng. Cùng ngày, Ngân hàng đã phê duyệt và cấp thẻ tín dụng quốc tế Visa Platinum cho anh T1 với lãi suất: 33.2%/năm.
Sau khi quá hạn, Ngân hàng đã làm việc nhiều lần với anh T1 để bàn bạc, tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn, sớm giải quyết dứt điểm tình trạng nợ quá hạn. Quá trình làm việc Ngân hàng đã nhiều lần cử cán bộ Ngân hàng đến thăm hỏi động viên anh T1, giải thích về quyền và nghĩa vụ cấp tín dụng khi phát sinh nợ quá hạn tại Ngân hàng. Đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để khách hàng trả nợ, tuy nhiên anh T1 không thanh toán khoản nợ quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản mà hai bên đã thỏa thuận.
Tính đến ngày xét xử 24/7/2024, anh T1 còn nợ Ngân hàng số tiền là: 154.870.352 đồng (Trong đó nợ gốc là 102.634.960 đồng, lãi quá hạn là 52.235.392 đồng)
Để đảm bảo thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật, Ngân hàng đã tiến hành khởi kiện anh T1 và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì giải quyết:
- Buộc ông Phạm Anh T1 thanh toán dứt điểm nợ gốc, lãi quá hạn đến hết ngày xét xử 24/7/2024 và lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng đã ký với Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh P.
- Buộc bên được cấp tín dụng phải chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ chi phí tố tụng phát sinh liên quan.
- Bị đơn anh Phạm Anh T1 trình bày:
Anh Phạm Anh T1 xác nhận có được Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh P cấp thẻ tín dụng quốc tế Visa Platinum với lãi suất: 33.2%/năm, hạn mức đề xuất là: 100.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng), mục đích vay để tiêu dùng, như phía đại diện Ngân hàng trình bày là đúng. Quá trình trả nợ anh luôn tuân thủ quy định Ngân hàng và trả nợ đúng hạn cho đến khi mất khả năng tài chính.
Nay Ngân hàng khởi kiện anh yêu cầu trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi, quan điểm của anh là đề nghị Ngân hàng cung cấp diễn biến dư nợ chi tiết gốc, lãi, phí, lãi của lãi quá hạn, lãi của gốc quá hạn để làm cơ sở cho anh cố gắng tìm phương án trả nợ, do năng lực trả nợ có hạn vì vậy anh có thiện chí trả cho Ngân hàng số tiền 1.000.000 đồng/tháng đến 2.000.000 đồng/tháng và xin miễn tiền lãi cho đến khi hết nợ .
Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, đánh giá đầy đủ, khách quan tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3, Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Phạm Anh T1 có nơi cư trú tại phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.3. Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn vắng mặt nhưng người đại diện theo ủy quyền là ông T có mặt; Bị đơn anh T1 vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là có căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều 227, khoản 2, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
1.4. Về việc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ không tham gia phiên tòa sơ thẩm: Do Tòa án không tiến hành việc thu thập chứng cứ nên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì không tham gia phiên tòa là đúng theo quy định tại Điều 27 Thông tư số 02/2016/TTLT - VKSNDTC - TANDTC ngày 31/8/2016 quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 03/9/2019, Ngân hàng đã cấp 01 thẻ tín dụng Visa Platinum cho anh Phạm Anh T1, hạn mức tín dụng thẻ là 100.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng anh T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 188.500.000 đồng. Anh T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 22/8/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của anh T1 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày xét xử, 24/7/2024 anh T1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 154.870.352 đồng, trong đó nợ gốc là 102.634.960 đồng, lãi quá hạn là 52.235.392 đồng.
Bị đơn xác nhận có mở thẻ tín dụng Visa Platinum tại Ngân hàng TMCP S1 - chi nhánh P theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 03/9/2019, hạn mức tín dụng thẻ là 100.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân.
Từ ngày 22/4/2023 đến ngày 22/7/2023, anh T1 đã chậm 04 kỳ liên tiếp không thanh toán cho Ngân hàng. Đến ngày 22/8/2023, do anh T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu, phí trễ hạn, lãi phát sinh 4 kỳ liên tiếp chưa thanh toán sang nợ gốc quá hạn và việc thanh toán sẽ ưu tiên cho nợ gốc trước. Căn cứ vào bảng kê chi tiết giao dịch của khách hàng, bảng tóm tắt sao kê, lời khai của các đương sự và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, có đủ cơ sở để xác định anh T1 đã được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng nêu trên, số tiền anh T1 thực hiện các giao dịch và còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 102.634.960 đồng. Do đó, nguyên đơn yêu cầu anh T1 trả số nợ gốc trên là có căn cứ, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.
2.2. Về lãi suất:
Căn cứ Phụ lục 3: Biểu phí thẻ của Ngân hàng Q lãi suất áp dụng đổi với thẻ tín dụng thẻ quốc tế Visa Platinum là 33.2%/năm, lãi quá hạn tính bằng 150% lãi suất trong hạn. Phía bị đơn cũng xác nhận khi ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 03/9/2019 đã được Ngân hàng thông báo lãi suất đối với thẻ quốc tế Visa Platinum là 33.2%/năm và đồng ý với mức lãi suất đó. Xét thấy, mức lãi suất trên do các bên tự nguyện thỏa thuận tại điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật. Việc Ngân hàng áp dụng mức lãi suất trên có cơ sở để chấp nhận. Do đó, nguyên đơn yêu cầu anh T1 trả số nợ lãi quá hạn 52.235.392 đồng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Như vậy, anh T1 có nghĩa vụ phải thanh toán cho Ngân hàng tổng cộng số tiền là 154.870.352 đồng, trong đó nợ gốc là 102.634.960 đồng, lãi quá hạn là 52.235.392 đồng. Anh T1 còn có nghĩa vụ thanh toán tiếp khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày xét xử cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn anh Phạm Anh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.930.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 16 Điều 4, Điều 90, 91, 95, khoản 3 Điều 98, Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 274; khoản 1 Điều 275; Điều 280; Điều 463, 465, 466 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1.
Buộc anh Phạm Anh T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S1 tổng số tiền nợ của thẻ tín dụng là 154.870.352 đ (Một trăm năm mươi bốn triệu tám trăm bẩy mươi nghìn ba trăm năm mươi hai đồng), trong đó nợ gốc là 102.634.960 đ (Một trăm linh hai triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn chín trăm sáu mươi đồng), nợ lãi quá hạn là 52.235.392 đ (Năm mươi hai triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn ba trăm chín mươi hai đồng). Theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 03/9/2019.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm anh T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà anh T1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1. Anh Phạm Anh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 7.743.518 đồng (Bẩy triệu bẩy trăm bốn mươi ba nghìn năm trăm mười tám đồng)
3.2. Ngân hàng TMCP S1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. H lại cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.930.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005798 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.
“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đặng Xuân Quân |
Quyết định số 37/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số quyết định: 37/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NH sài gòn thường tín vs Tuấn
