|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03-5-2024 V/v: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Ngọc Cẩm Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tống Nê
- Bà Phạm Thị Em
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Linh Duy – Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 569/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXX-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa 26/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị B, sinh năm 1989. Có mặt
Nơi cư trú: Số C ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Chiêu B1, sinh năm 1990. Vắng mặt
Nơi cư trú: Số H ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thị B trình bày:
Chị và anh B1 tự nguyện quen biết và cưới nhau vào năm 2017, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 19/01/2017. Sau khi kết hôn, thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2018 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, thường hay cãi vã mặc dù đã cố gắng hàn gắn nhưng vẫn không được. Do mâu thuẫn hai vợ chồng ngày càng nghiêm trọng nên chị và anh B1 đã sống riêng, không còn ai quan tâm gì ai. Nay chị nhận thấy giữa chị và anh B1 không còn tình cảm nữa, không thể tiếp tục chung sống được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh B1.
Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 15/10/2017 hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn chị đồng ý nuôi dưỡng con chung tên cháu Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 15/10/2017, không yêu cầu anh B1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Chiêu B1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Huỳnh Thị B, cho chị B được ly hôn với anh B1. Về con chung: Sau khi ly hôn giao con chung tên Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 15/10/2017 cho chị B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh B1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: không có, không yêu cầu giải quyết. Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Chị Huỳnh Thị B có đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh Nguyễn Chiêu B1, cư trú tại: Số H ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Xét thấy, đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị B có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị B theo thủ tục chung.
[3] Bị đơn anh Nguyễn Chiêu B1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh B1 theo thủ tục chung.
Về nội dung:
[1] Về hôn nhân: Chị B và anh B1 cưới nhau vào năm 2017 trên tinh thần tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 19/01/2017 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị chị B và anh B1 chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn nên chị B đã nộp đơn xin ly hôn với anh B1.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Cuộc sống hôn nhân của chị B và anh B1 thực tế là có mâu thuẫn. Bởi lẽ, vào năm 2018 thì chị B và anh B1 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do hai bên bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, hai bên không có tiếng nói chung. Chính vì mâu thuẫn của anh chị ngày càng nhiều nên chị B đã dẫn con về bên nhà mẹ ruột sinh sống từ năm 2018 cho đến nay. Từ khi chị B và anh B1 sống riêng cho đến nay thì chị B và anh B1 cũng không còn quan tâm hay liên lạc gì nhau và hai bên đã ly thân nhau. Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị B và anh B1 đã gay gắt mặc dù trong khoảng thời gian chị B và anh B1 ly thân cũng là khoảng thời gian đủ để anh chị suy nghĩ hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, tuy nhiên, anh chị vẫn không hàn gắn được mà mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Quá trình giải quyết vụ án, chị B xác định không còn tình cảm với anh B1 và kiên quyết xin ly hôn với anh B1. Anh B1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, điều đó cho thấy anh B1 đã tự từ bỏ việc hàn gắn lại tình cảm vợ chồng với chị B.
Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị B và anh B1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị B là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về con chung: Quá trình sống chung anh chị có một con chung tên Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 15/10/2017 hiện đang sống với chị. Sau khi ly hôn chị đồng ý nuôi dưỡng con chung tên cháu Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 15/10/2017 và không yêu cầu anh B1 cấp dưỡng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi chị B và anh B1 ly thân đến nay thì cháu L là do chị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và sự phát triển của cháu L hoàn toàn tốt. Anh B1 đã được Tòa án triệu tập để giải quyết đối với yêu cầu của chị B nhưng anh vẫn không đến nên Tòa không ghi nhận được ý kiến của anh về yêu cầu nuôi cháu L của chị B. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của con chung, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 15/10/2017 cho chị B nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Chị B không yêu cầu anh B1 cấp dưỡng nuôi con nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Về tài sản chung: Không có không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Về án phí:
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Do yêu cầu của chị B được chấp nhận nên chị B phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, 147, 227, 228, 262, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị B đối với anh Nguyễn Chiêu B1. Cho chị Huỳnh Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Chiêu B1.
- Về con chung: Sau khi ly hôn chị Huỳnh Thị B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 15/10/2017. Ghi nhận chị B không yêu cầu anh B1 cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức theo quy định của pháp luật Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Huỳnh Thị B phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng mà chị B đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000851 ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.
Chị Huỳnh Thị B và anh Nguyễn Chiêu B1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Ngọc Cẩm Sơn |
Quyết định số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE về xin ly hôn
- Số quyết định: 37/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án
