|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ Số: 37/2025/QÐST-HNGĐ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Phú Thọ, ngày 12 tháng 11 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: Yêu cầu xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - PHÚ THỌ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
- Thư ký phiên họp: Bà Phan Ngọc Mai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ tham gia phiên họp:
Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 122/2025/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc xác định cha cho con theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 52A/2025/QÐST - HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Anh Bùi Phạm C, sinh năm: 1988
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Xóm M, xã M, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt có lý do)
Địa chỉ: Xóm M, xã M, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Tại đơn yêu cầu và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, anh Bùi Phạm C là người yêu cầu trình bày:
Đầu năm 2022 anh và chị Nguyễn Thị Kim C1, sinh năm 1990, quen biết và phát sinh quan hệ tình cảm, sau đó chị C1 có thai, khoảng tháng 4 năm 2022 anh đưa chị C1 về chung sống cùng với anh và bố mẹ anh tại xóm M, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm M, xã M, tỉnh Phú Thọ) nhưng anh và chị C1 không đăng ký kết hôn, thời điểm đó Công an viên của xóm có đến nhắc chị C1 đi làm thủ tục khai báo tạm trú nhưng chị C1 và gia đình anh không làm, trong thời gian cùng chung sống anh và gia đình có hỏi địa chỉ của chị C1 nhưng C1 không nói địa chỉ cụ thể mà chỉ nói ở Bắc Ninh.
Đến ngày 07/7/2022, chị C1 sinh con tại Trạm Y tế xã Dũng Phong, anh chị dự định đặt tên con là Bùi Thế D sau khi sinh con anh đã đón hai mẹ con về nhà chăm sóc, sau khi sinh con được một tháng thì C1 tự bỏ đi không nói với ai và để lại con cho anh và gia đình anh chăm sóc từ đó đến nay. Anh và gia đình cũng đã cố gắng liên hệ tìm kiếm chị C1 nhưng không được, đến nay gia đình cũng không biết chị C1 hiện đang ở đâu, từ khi bỏ đi C1 cũng không quay về thăm con, không chu cấp tiền nuôi con.
Do sau khi sinh con anh chị chưa đi làm thủ tục khai sinh cho con thì chị C1 bỏ con và gia đình nên từ khi sinh cho đến nay cháu Thế D vẫn chưa làm thủ tục đăng ký khai sinh. Bản thân anh muốn ghi tên người cha trên giấy khai sinh của cháu Bùi Thế D để đảm bảo quyền lợi cho cháu về mặt mặt pháp lý cũng như hộ tịch của con. Ngày 05/8/2025, anh đã đưa cháu Thế D (tên giả định do chưa khai sinh) đi làm thủ tục giám định ADN tại Công ty TNHH M. Kết quả giám định cho thấy, anh và cháu Thế D có quan hệ huyết thống Cha - con.
Nay do cần thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh và giải quyết các vấn đề liên quan đến nhân thân của công dân nên anh yêu cầu Toà án làm thủ tục xác định anh là cha đẻ của cháu Bùi Thế D theo quy định của pháp luật.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt, anh Bùi Phạm C vẫn giữ nguyên yêu cầu theo đơn, đề nghị xác định anh là cha của cháu Bùi Thế D.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ:
Về tố tụng: Tòa án đã thụ lý vụ việc đúng thẩm quyền, xác định đúng yêu cầu, đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ việc đúng thời hạn quy định. Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của BLTTDS. Người yêu cầu thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được xác minh niêm yết văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 29, 39, 361, 367, 369, 370 Bộ Luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội (sửa đổi, bổ sung Điều 35 của BLTTDS); Điều 88, 91, 101, 102 Luật Hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu, xác định anh Bùi Phạm C là cha của cháu Bùi Thế D.
Về lệ phí: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, anh Bùi Phạm C được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 12 nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ việc Hôn nhân gia đình về xác định cha cho con theo quy định tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình; người yêu cầu giải quyết có nơi cư trú tại xã M, tỉnh Phú Thọ do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ theo khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội (sửa đổi, bổ sung Điều 35 của BLTTDS), điểm t khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã nộp đơn yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình và các tài liệu chứng cứ kèm theo nên việc thụ lý giải quyết vụ việc là đúng quy định các Điều 362, 363, 365 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ việc, Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ việc, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự cho đương sự theo quy định.
Tòa án nhân dân khu vực 12 đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Kim C1 tại nơi cư trú cuối cùng của chị theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, do chị C1 không có mặt tại địa phương, Tòa án không thể tiến hành tống đạt trực tiếp được. Để bảo đảm quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của chị C1, đồng thời để thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo luật định. Tại phiên họp, chị Nguyễn Thị Kim C1 vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 367 BLTTDS Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
[2] Về nội dung yêu cầu:
[2.1] Theo lời trình bầy của người yêu cầu và kết quả xác minh xác định: Khoảng đầu năm 2022 anh Bùi Phạm C và chị Nguyễn Thị Kim C1 tìm hiểu yêu đương trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và chung sống với nhau như vợ chồng tại xóm M, xã T, huyện C, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm M xã M, tỉnh Phú Thọ). Đến ngày 07/7/2022, chị C1 sinh con tại Trung tâm y tế xã D (thể hiện tại giấy chứng sinh không số, quyển số 02 của Trung tâm y tế xã D, họ tên mẹ là Nguyễn Thị Kim C1). Đã sinh con lúc 18h 00 phút ngày 07/7/2022, giới tính: Nam, cân nặng 3100g. Anh C và chị C1 tạm đặt tên cháu là cháu Bùi Thế D, sau khi sinh con anh C và chị C1 chưa đi làm thủ tục khai sinh cho con sau khi sinh được khoảng một tháng chị C1 tự bỏ nhà đi không nói với ai để lại con cho anh C và gia đình anh chăm sóc. Từ khi sinh con cho đến nay, anh cũng chưa làm được thủ tục khai sinh cho cháu D. Để có cơ sở xác định cháu Bùi Thế D (tên giả định do anh C, chị C1 đặt) Tòa án đã thực hiện việc thu thập các tài liệu chứng cứ và trưng cầu giám định ADN. Tại Bản kết quả xét nghiệm ADN số KQ2508041.12 ngày 05/8/2025 của Công ty TNHH M đối anh Bùi Phạm C, sinh năm: 1988; căn cước công dân số 0170988001736; nơi cư trú: T, C, Hòa Bình và cháu Bùi Thế D, giới tính nam; sinh ngày 07/7/2022 (theo Giấy chứng sinh quyển số 02, do Trạm y tế xã D, tỉnh Hòa Bình cấp ngày 07/7/2022), kết luận: “Hai người trên CÓ QUAN HỆ HUYẾT THỐNG CHA - CON”.
[2.2]. Căn cứ vào lời khai của các đương sự, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN ngày 05/8/2025, của Công ty TNHH M, xác định anh Bùi Phạm C và cháu Bùi Thế D, sinh ngày 07/7/2022 (giới tính: Nam) có quan hệ huyết thống Cha - con, nên yêu cầu của anh C được chấp nhận.
[3] Xét ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên họp phù hợp với nhận định của Tòa nên được chấp nhận.
[4] Lệ phí giải quyết việc dân sự: Anh C yêu cầu xác nhận cha cho con dưới 18 tuổi nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Khoản 10 Điều 29; điểm t khoản 2 Điều 39; các Điều 361, 366, 367, 369, 370, 371, 372 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội (sửa đổi, bổ sung Điều 35 của BLTTDS).
- - Điều 88, 91, 101, 102 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận đơn yêu cầu của anh Bùi Phạm C về việc “Yêu cầu xác định cha cho con".
Tuyên bố: Anh Bùi Phạm C, sinh năm: 1988; căn cước công dân số 0170988001736 do Cục Q về TTXH cấp ngày 22/6/2024; nơi cư trú: Xóm M, xã M, tỉnh Phú Thọ là cha đẻ cháu Bùi Thế D (tên dự định đặt) giới tính: Nam; sinh ngày 07/7/2022 tại Trạm y tế xã D.
Anh Bùi Phạm C có các quyền và nghĩa vụ của cha đối với cháu Bùi Thế D (tên dự định đặt) theo quy định của pháp luật. Anh C có quyền đến các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các giấy tờ thủ tục liên quan đến hộ tịch của cháu Bùi Thế D
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Bùi Phạm C được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định được niêm yết. Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Thu Hà |
Quyết định số 37/2025/QÐST-HNGĐ ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ về yêu cầu xác định cha cho con
- Số quyết định: 37/2025/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chuân Chi
