|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Quyết định số: 37/2025/HS-GĐT Ngày 05 tháng 6 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ỦY BAN THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm có: 09 (chín) thành viên tham gia xét xử, do ông Nguyễn Xuân Thiện - Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh làm Chủ tọa phiên tòa theo sự ủy nhiệm của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thư ký phiên tòa: ông Thái Lê Quỳnh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Hải Long - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử giám đốc thẩm đối với:
Võ H, sinh năm 1980 tại tỉnh Quảng Ngãi; đăng ký hộ khẩu thường trú tại số D L, Tổ H, Khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hoá: lớp 12/12; nghề nghiệp: buôn bán; con ông Võ C và bà Lưu Thị Đ; có vợ là Võ Thị D và 02 con (con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 20/6/2023; ngày 14/7/2023, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
NỘI DUNG:
V tại thành phố T, tỉnh Bình Dương và anh Nguyễn Văn D1 làm nghề bán vé số có mối quan hệ quen biết với nhau do trước đây anh D1 thường lấy vé số của H để bán. Khoảng tháng 12/2021, anh D1 dẫn em ruột là anh Nguyễn Văn N, sinh năm 2003 đến gặp H để lấy vé số đi bán và anh D1 đứng ra bảo lãnh cho anh N để H tin tưởng giao vé số cho anh N bán. Trong thời gian bán vé số, anh N còn nợ tiền và vé số đã lấy của H với tổng số tiền 2.758.000 đồng.
Khoảng 11 giờ ngày 19/6/2023, Võ H điều khiển xe mô tô đi đến đường V, đoạn qua Khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì gặp anh D1 đang đi bán vé số. H nói anh D1 phải thay anh N trả tiền nợ cho H là 3.000.000 đồng nhưng anh D1 nói không nợ tiền của H nên không đồng ý trả tiền. Lúc này, H nói lấy vé số của anh D1 cho đủ số tiền 3.000.000 đồng và giật vé số trên tay anh D1 đang cầm nhưng anh D1 giật lại được và bỏ chạy, H đuổi theo nhưng không kịp. H gọi điện thoại cho bạn là anh Võ Duy T nói đang bị va chạm giao thông và nhờ anh T ra phụ giúp H, rồi H gửi vị trí định vị qua zalo cho anh T. Do anh T đang bận làm việc nên nhờ Võ Thanh T1 và Nguyễn Hoàng P đi đến vị trí H gửi để giúp H. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô chở P đến gặp H. H nói T1 và P phụ giúp tìm anh D1 trong đường B, đoạn qua Khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương nhưng không thấy. Trong lúc T1, P bỏ đi về trước, còn H đi về sau thì H nhìn thấy anh D1 từ trong hẻm đi ra nên hô lớn cho T1, P biết “Nó kìa, nó kìa” và dùng xe mô tô đuổi theo anh D1, còn T1 và P cũng đuổi theo anh D1.
Khi anh D1 chạy đến trước nhà số A, đường V, Tổ F, Khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì H đuổi kịp anh D1 và dùng tay túm cổ áo, xô xát qua lại với anh D1. Lúc này, T1 đi đến ôm H, còn P ôm anh D1 để can ngăn thì H dùng tay giật túi xách của anh D1 đang đeo trên người làm túi xách bị đứt dây. H đưa túi xách cho T1 và nói “Lấy tiền và vé số đủ 03 triệu dùm”. T1 lấy tiền trong túi xách ra đếm và nói với H có 1.190.000 đồng. H lấy số tiền trên từ T1, bỏ vào cặp, còn vé số thì T1 đưa cho P đếm; sau khi đếm xong, P nói với H có 120 tờ và đưa vé số cho H, H lấy vé số bỏ vào cặp cất giữ. Trong lúc T1 và P đếm tiền và vé số thì anh D1 không đồng ý nên nhào vào giật lại tài sản của mình nhưng bị H xô đẩy ra để T1 và P lấy tiền và vé số. Sau khi bị H, T1, P lấy tiền và vé số thì anh D1 giật lại túi xách của mình và bỏ đi. Sau đó, T1 mua lại của H 05 tờ vé số vừa chiếm đoạt được của anh D1 và để số tiền 50.000 đồng vào cặp H; H giữ lại 10 tờ vé số, còn 105 tờ vé số còn lại, H nhờ vợ là chị Võ Thị D bán cho bà Đặng Thị L với giá 934.00 đồng nhưng chị D chưa lấy tiền.
Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày 19/6/2023, anh D1 đến Công an phường P trình báo vụ việc. Quá trình điều tra, H, T1, P khai nhận hành vi chiếm đoạt tiền và vé số của anh D1 như trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 03/4/2024, Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt Võ H 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 12/4/2024, Võ H kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 123/2024/HS-PT ngày 16/7/2024, Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của Võ H; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 03/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; áp dụng khoản 1 Điều 168; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Võ H 03 (ba) năm tù về tội “Cướp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày Tòa tuyên án phúc thẩm (16/7/2024).
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 31/QĐKN-VC3-V1 ngày 27/02/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị đối với Bản án hình sự phúc thẩm số 123/2024/HS-PT ngày 16/7/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương về phần quyết định hình phạt đối với Võ H; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm, hủy một phần Bản án hình sự phúc thẩm số 123/2024/HS-PT ngày 16/7/2024 để xét xử phúc thẩm lại theo hướng không cho Võ H được hưởng án treo.
Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tội danh:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án Võ H về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2]. Về việc áp dụng tình tiết tăng nặng “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng”.
Khi nhìn thấy anh Nguyễn Văn D1 trên đường, Võ H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh D1 để cấn trừ nợ cho anh Nguyễn Văn N (em trai anh D1). Mặc dù, anh D1 đã giật lại được túi xách và bỏ chạy nhưng H vẫn không từ bỏ ý định, H gọi thêm người đến hỗ trợ tìm anh D1. Khi tìm được anh D1, H đuổi theo anh D1, dùng tay túm cổ áo và xô xát qua lại với anh D1. Lúc này, T1 đi đến ôm H, còn P ôm anh D1 để can ngăn thì H dùng tay giật túi xách của anh D1 đang đeo trên người, đưa cho T1 và P để lấy tiền và vé số của anh D1. Mặc dù, quá trình các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, anh D1 không đồng ý, đã giật lại tài sản của mình, H xô đẩy anh D1 ra và chiếm đoạt tài sản của anh D1. Như vậy, Võ H đã thực hiện hành vi một cách quyết liệt và cố tình thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Toà án cấp phúc thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “cố tình thực hiện thực hiện tội phạm đến cùng” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H là thiếu sót.
[3]. Về hình phạt:
Võ Hòa bị kết án về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 03 năm đến 10 năm tù. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản chiếm đoạt không lớn (2.390.000 đồng), bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Như vậy, bị cáo chỉ có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn) và 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (cố tình thực hiện thực hiện tội phạm đến cùng). Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt Võ H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 168; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Võ H 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo là không tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, không đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống với loại tội phạm này.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 382, Điều 388, Điều 390 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 31/QĐKN-VC3-V1 ngày 27/02/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 123/2024/HS-PT ngày 16/7/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 03/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Võ H.
3. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
|
Nơi nhận:
|
TM. ỦY BAN THẨM PHÁN PHÓ CHÁNH ÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thiện |
Quyết định số 37/2025/HS-GĐT ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản
- Số quyết định: 37/2025/HS-GĐT
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Giám đốc thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ Điều 382, Điều 388, Điều 390 Bộ luật Tố tụng hình sự; 1. Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 31/QĐKN-VC3-V1 ngày 27/02/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 123/2024/HS-PT ngày 16/7/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 03/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, về phần quyết định hình phạt đối với bị cáo Võ H. 3. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
